Ngày 18/9/1783, nhà toán học, nhà vật lý học Leonhard Euler - người có một sức mạnh trí tuệ và tinh thần kỳ diệu, đã rời bỏ khoa học để đi về thế giới bên kia. Song những gì ông để lại vẫn luôn được hậu thế nâng niu và trân trọng không chỉ vì giá trị thực tế của nó mà còn bởi giá trị tinh thần to lớn ẩn chứa bên trong.
Ngay từ nhỏ Euler là một cậu bé có tài năng đặc biệt về ngôn ngữ và một trí nhớ phi thường. Song cuộc đời ông đã trải qua nhiều biến động và bất hạnh: hai mắt lần lượt hỏng, nhà cháy thiêu rụi mọi tài sản, người vợ thân yêu qua đời...
Nhưng tất cả những điều đó không hề ảnh hưởng tới sức sáng tạo, đến khả năng làm việc của ông. Càng về già, Euler càng làm việc không biết mệt mỏi. Chỉ tính riêng trong 17 năm cuối đời, Euler đã công bố tới 416 công trình. Tính ra trung bình mỗi năm ông công bố tới 25 công trình, nhiều gấp 3 lần số công trình mỗi năm trước đó ông đã công bố.
Leonhard Euler - Sức mạnh trí tuệ kỳ diệu
Leonhard Euler sinh ngày 15/4/1707 tại Basel, Thụy Sĩ.

Sau khi ông qua đời, các công trình nghiên cứu của ông đã được tập hợp trong bộ sách “Leonhard Euler Opera Omnia”, gồm 85 quyển cỡ lớn với gần 40.000 trang, trong đó đề cập đến hầu hết các lĩnh vực của toán học và nhiều ngành khoa học kỹ thuật khác.

Đóng góp quan trọng cho Toán học

Đối với Euler, làm toán cũng tự nhiên và cần thiết cho đời sống như là hít thở khí trời vậy. Ông đã bị ám ảnh bởi sự biến đổi kỳ diệu của những phép tính cho đến tận khi ông qua đời. Leonhard Euler nghiên cứu hầu hết các lĩnh vực của Toán học thời bấy giờ như: đại số, lý thuyết số, giải tích, hình học… Các công trình về toán học chiếm tới 58% tổng các công trình nghiên cứu của ông.
Một trong những thành công ban đầu của Euler đã là tìm ra lời giải cho bài toán Basel, yêu cầu tìm giá trị chính xác của tổng các bình phương nghịch đảo của các các số nguyên. Trước đó, các nhà toán học tốn rất nhiều công sức mà không tìm ra được kết quả bài toán. Đến năm 1735, khi Euler sử dụng kỹ thuật tính xấp xỉ mới tìm ra kết quả chính xác của bài toán là pi^2/16.
Leonhard Euler - Sức mạnh trí tuệ kỳ diệu
Bản đồ Königsberg thời Euler, mô tả vị trí thực của 7 cây cầu và sông Pregel.

Năm 1736, Euler tiếp tục giải được bài toán nổi tiếng 7 chiếc cầu Königsberg. Khi đó, thành phố Königsberg gồm hai hòn đảo nối với nhau và với đất liền bởi 7 cây cầu. Bài toán đặt ra là tìm một tuyến đường đi qua mỗi cây cầu chỉ đúng 1 lần. Bằng lý thuyết đồ thị, Euler đã chứng minh rằng điều đó không thể thực hiện. Lời giải của ông cho bài toán này được coi là định lý đầu tiên của lý thuyết đồ thị và là đánh dấu sự phát triển của ngành tôpô học.
Không dừng lại ở thành công đó, Euler tiếp tục nghiên cứu và công bố nhiều công trình toán học quan trọng khác như: chuyển động cơ học được giải thích bởi ngành giải tích, đường thẳng Euler, đường tròn Euler trong tam giác, định lý Euler về liên hệ giữa số đỉnh, cạnh và mặt trong của một đa diện lồi, nhập môn về tính vi tích, nguyên lý vi phân học, nguyên lý tích phân học, dẫn luận phân tích vô cùng nhỏ, … Ngoài ra, Euler còn phát minh ra một chuỗi các phương pháp tính xấp xỉ, được sử dụng nhiều trong tính toán.
Ông cũng là người đưa ra nhiều kí hiệu toán học mà ngày nay chúng ta vẫn đang sử dụng như: số "pi" để biểu diễn tỉ lệ giữa chu vi đường tròn và đường kính của nó, sin, cos, tg, cotg, Δx (số gia), Σ (tổng), f(x) (hàm f của x), v.v...

Đóng góp cho vật lý và các ngành khoa học kỹ thuật

Euler có nhiều đóng góp cho cơ học, vật lý. Ông đặc biệt nghiên cứu các định luật chuyển động của Issac Newton. Quá trình nghiên cứu này đã giúp ông giải thích các định luật vật lý học Newton dưới dạng toán giải tích, đồng thời giúp ông phát hiện ra nhiều lý thuyết vật lý khác. Ví dụ khi Euler chứng minh được qui luật vận động của các chất lỏng mà Issac Newton đã đưa ra, Leonhard Euler đã phát triển được lý thuyết về sự cân bằng thủy lực.
Tương tự như thế, thông qua việc phân tích sự vận động của thể rắn và áp dụng các định luật của Newton, Euler đã giải thích được một cách cặn kẽ về quá trình biến dạng của các vật thể rắn khi có sự tác động của các lực bên ngoài, từ đó góp phần hình thành lý thuyết đàn hồi. Năm 1936, các công trình nghiên cứu này của ông đã được tập hợp trong luận văn “Lực học”.
Leonhard Euler - Sức mạnh trí tuệ kỳ diệu
Chân dung Leonhard Euler trên một con tem của Thụy Sĩ.

Ngoài vật lý, Euler cũng nghiên cứu về thiên văn học, lý thuyết đường đạn, bản đồ, xây dựng, lý thuyết âm nhạc, thần học và triết học,… Trong những năm tháng mù lòa, ông đã viết một luận án dài 775 trang về chuyển động của mặt trăng. Ông cũng nghiên cứu về quỹ đạo của sao Thiên Vương, nhờ đó các nhà thiên văn học tìm ra sao Hải Vương sau này.
Với những đóng góp cho khoa học, Euler được phong làm viện sỹ của 8 viện hàn lâm trên thế giới, trong đó có Anh, Pháp, Nga, Đức,…Ông cũng được coi là nhà toán học quan trọng nhất của thế kỷ XVIII.
Đánh giá về những công trình khoa học của Euler, nhà triết học duy vật nổi tiếng người Pháp Diderot đã viết: “Ông sẵn sàng đánh đổi tất cả những điều ông đã xây dựng được để lấy một trang trong những tác phẩm của ngài Euler".
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhO3Ye5ZB4GP4n8ZqZVzXraZb_RSboibEuRKfdNvzLooNKWmawpLhDlhLVyo7EVjB8FG9WNy-7esQyio7K1ayA8yCDyqyA-SKXcUcWIKrTDIw4sb4zuwTCSHcd7-s761Pne85qXlyg6ShkZ/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEinlBr5T_HCKpdHaeFjknniAC1jybRRoerARsR7IhFVIgMgkckMMy8kP19HX3kq9M1a-Rtpyq2HWFK83nHWYFoWwesFxSp9jaa0rtLdoNpRh0Qq02YODCN79pI83DAZAsvBb0WpC9SC3g9o/
Quanh ta
1:17 PM|

Ngày 18/9/1783, nhà toán học, nhà vật lý học Leonhard Euler - người có một sức mạnh trí tuệ và tinh thần kỳ diệu, đã rời bỏ khoa học để đi về thế giới bên kia. Song những gì ông để lại vẫn luôn được hậu thế nâng niu và trân trọng không chỉ vì giá trị thực tế của nó mà còn bởi giá trị tinh thần to lớn ẩn chứa bên trong.
Ngay từ nhỏ Euler là một cậu bé có tài năng đặc biệt về ngôn ngữ và một trí nhớ phi thường. Song cuộc đời ông đã trải qua nhiều biến động và bất hạnh: hai mắt lần lượt hỏng, nhà cháy thiêu rụi mọi tài sản, người vợ thân yêu qua đời...
Nhưng tất cả những điều đó không hề ảnh hưởng tới sức sáng tạo, đến khả năng làm việc của ông. Càng về già, Euler càng làm việc không biết mệt mỏi. Chỉ tính riêng trong 17 năm cuối đời, Euler đã công bố tới 416 công trình. Tính ra trung bình mỗi năm ông công bố tới 25 công trình, nhiều gấp 3 lần số công trình mỗi năm trước đó ông đã công bố.
Leonhard Euler - Sức mạnh trí tuệ kỳ diệu
Leonhard Euler sinh ngày 15/4/1707 tại Basel, Thụy Sĩ.

Sau khi ông qua đời, các công trình nghiên cứu của ông đã được tập hợp trong bộ sách “Leonhard Euler Opera Omnia”, gồm 85 quyển cỡ lớn với gần 40.000 trang, trong đó đề cập đến hầu hết các lĩnh vực của toán học và nhiều ngành khoa học kỹ thuật khác.

Đóng góp quan trọng cho Toán học

Đối với Euler, làm toán cũng tự nhiên và cần thiết cho đời sống như là hít thở khí trời vậy. Ông đã bị ám ảnh bởi sự biến đổi kỳ diệu của những phép tính cho đến tận khi ông qua đời. Leonhard Euler nghiên cứu hầu hết các lĩnh vực của Toán học thời bấy giờ như: đại số, lý thuyết số, giải tích, hình học… Các công trình về toán học chiếm tới 58% tổng các công trình nghiên cứu của ông.
Một trong những thành công ban đầu của Euler đã là tìm ra lời giải cho bài toán Basel, yêu cầu tìm giá trị chính xác của tổng các bình phương nghịch đảo của các các số nguyên. Trước đó, các nhà toán học tốn rất nhiều công sức mà không tìm ra được kết quả bài toán. Đến năm 1735, khi Euler sử dụng kỹ thuật tính xấp xỉ mới tìm ra kết quả chính xác của bài toán là pi^2/16.
Leonhard Euler - Sức mạnh trí tuệ kỳ diệu
Bản đồ Königsberg thời Euler, mô tả vị trí thực của 7 cây cầu và sông Pregel.

Năm 1736, Euler tiếp tục giải được bài toán nổi tiếng 7 chiếc cầu Königsberg. Khi đó, thành phố Königsberg gồm hai hòn đảo nối với nhau và với đất liền bởi 7 cây cầu. Bài toán đặt ra là tìm một tuyến đường đi qua mỗi cây cầu chỉ đúng 1 lần. Bằng lý thuyết đồ thị, Euler đã chứng minh rằng điều đó không thể thực hiện. Lời giải của ông cho bài toán này được coi là định lý đầu tiên của lý thuyết đồ thị và là đánh dấu sự phát triển của ngành tôpô học.
Không dừng lại ở thành công đó, Euler tiếp tục nghiên cứu và công bố nhiều công trình toán học quan trọng khác như: chuyển động cơ học được giải thích bởi ngành giải tích, đường thẳng Euler, đường tròn Euler trong tam giác, định lý Euler về liên hệ giữa số đỉnh, cạnh và mặt trong của một đa diện lồi, nhập môn về tính vi tích, nguyên lý vi phân học, nguyên lý tích phân học, dẫn luận phân tích vô cùng nhỏ, … Ngoài ra, Euler còn phát minh ra một chuỗi các phương pháp tính xấp xỉ, được sử dụng nhiều trong tính toán.
Ông cũng là người đưa ra nhiều kí hiệu toán học mà ngày nay chúng ta vẫn đang sử dụng như: số "pi" để biểu diễn tỉ lệ giữa chu vi đường tròn và đường kính của nó, sin, cos, tg, cotg, Δx (số gia), Σ (tổng), f(x) (hàm f của x), v.v...

Đóng góp cho vật lý và các ngành khoa học kỹ thuật

Euler có nhiều đóng góp cho cơ học, vật lý. Ông đặc biệt nghiên cứu các định luật chuyển động của Issac Newton. Quá trình nghiên cứu này đã giúp ông giải thích các định luật vật lý học Newton dưới dạng toán giải tích, đồng thời giúp ông phát hiện ra nhiều lý thuyết vật lý khác. Ví dụ khi Euler chứng minh được qui luật vận động của các chất lỏng mà Issac Newton đã đưa ra, Leonhard Euler đã phát triển được lý thuyết về sự cân bằng thủy lực.
Tương tự như thế, thông qua việc phân tích sự vận động của thể rắn và áp dụng các định luật của Newton, Euler đã giải thích được một cách cặn kẽ về quá trình biến dạng của các vật thể rắn khi có sự tác động của các lực bên ngoài, từ đó góp phần hình thành lý thuyết đàn hồi. Năm 1936, các công trình nghiên cứu này của ông đã được tập hợp trong luận văn “Lực học”.
Leonhard Euler - Sức mạnh trí tuệ kỳ diệu
Chân dung Leonhard Euler trên một con tem của Thụy Sĩ.

Ngoài vật lý, Euler cũng nghiên cứu về thiên văn học, lý thuyết đường đạn, bản đồ, xây dựng, lý thuyết âm nhạc, thần học và triết học,… Trong những năm tháng mù lòa, ông đã viết một luận án dài 775 trang về chuyển động của mặt trăng. Ông cũng nghiên cứu về quỹ đạo của sao Thiên Vương, nhờ đó các nhà thiên văn học tìm ra sao Hải Vương sau này.
Với những đóng góp cho khoa học, Euler được phong làm viện sỹ của 8 viện hàn lâm trên thế giới, trong đó có Anh, Pháp, Nga, Đức,…Ông cũng được coi là nhà toán học quan trọng nhất của thế kỷ XVIII.
Đánh giá về những công trình khoa học của Euler, nhà triết học duy vật nổi tiếng người Pháp Diderot đã viết: “Ông sẵn sàng đánh đổi tất cả những điều ông đã xây dựng được để lấy một trang trong những tác phẩm của ngài Euler".
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhO3Ye5ZB4GP4n8ZqZVzXraZb_RSboibEuRKfdNvzLooNKWmawpLhDlhLVyo7EVjB8FG9WNy-7esQyio7K1ayA8yCDyqyA-SKXcUcWIKrTDIw4sb4zuwTCSHcd7-s761Pne85qXlyg6ShkZ/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEinlBr5T_HCKpdHaeFjknniAC1jybRRoerARsR7IhFVIgMgkckMMy8kP19HX3kq9M1a-Rtpyq2HWFK83nHWYFoWwesFxSp9jaa0rtLdoNpRh0Qq02YODCN79pI83DAZAsvBb0WpC9SC3g9o/

Ivan Pavlov, người được mệnh danh là “nhà sinh lý học bậc nhất của thế giới” đã chào đời cách đây 165 năm, ngày 14/9/1849, ở Ryazan (Nga). Ông là người đã sáng tạo ra học thuyết duy vật về hoạt động thần kinh cấp cao và được nhận giải thưởng Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1904 cho sáng tạo này.
Lấy cảm hứng từ những ý tưởng tiến bộ của DJ Pisarev (nhà phê bình văn học Nga nổi tiếng), sau khi đọc cuốn “Nguồn gốc của các loài” của Charles Darwin và các tác phẩm của IM Sechnov (cha đẻ của sinh lý học Nga), chàng trai Ivan Petrovich Pavlov đã từ bỏ sự nghiệp tôn giáo để cống hiến cuộc đời mình cho khoa học. Và vì thế sau này, thế giới mới có một nhà sinh lý học kiệt xuất.
Pavlov được sinh ra trong một gia đình linh mục đông con. Ngay từ khi còn nhỏ, Pavlov đã là một đứa trẻ có óc tưởng tượng, giỏi quan sát, có nghị lực, bền bỉ và kiên nhẫn trong mọi việc. Những đức tính này đã giúp Pavlov rất nhiều cho những thí nghiệm thành công sau này.
Người tìm ra định luật phản xạ có điều kiện
Nhà sinh lý học Ivan Pavlov

Cũng giống như hầu hết trẻ em khác của Ryazan, Pavlov bắt đầu quá trình học tập tại trường của nhà thờ ở Ryazan và sau đó ghi danh tại một chủng viện thần học. Pavlov rất ham đọc sách. 13 tuổi, Pavlov đã đọc rất nhiều tác phẩm nổi tiếng. Về sau Pavlov dần dần có hứng thú với sách khoa học về sinh lý.
Năm 1870, Pavlov quyết định từ bỏ việc nghiên cứu thần học và đăng ký vào học tại Đại học Saint Petersburg để nghiên cứu các ngành khoa học tự nhiên và trở thành một nhà sinh vật học. Năm 1875, Pavlov hoàn thành khóa học của mình một cách xuất sắc và đến năm 1879, ông nhận được học vị tiến sĩ.
Vào thập niên 1890, Pavlov làm việc tại Viện y học thực nghiệm. Dưới sự chỉ đạo của ông, Viện đã trở thành một trong những trung tâm quan trọng nhất về nghiên cứu sinh lý. Cũng tại đây, Pavlov đã thực hiện phần lớn các nghiên cứu của ông về sinh lý tiêu hóa. Với những nghiên cứu này, Pavlov đã mở đường cho những tiến bộ mới trong y học lý thuyết và thực tiễn; đồng thời, cho thấy rằng hệ thống thần kinh góp phần điều chỉnh quá trình tiêu hóa.
Một trong những nghiên cứu thú vị và có ý nghĩa lịch sử của ông là về vấn đề tiết dịch vị. Chúng ta đều biết, khi ăn, dạ dày sẽ tiết ra một lượng lớn dịch vị để giúp tiêu hóa thức ăn. Với quyết tâm muốn biết đại não truyền mệnh lệnh cho dạ dày như thế nào, Pavlov tiến hành thí nghiệm đối với con chó đã sống ở phòng thí nghiệm nhiều năm, đã quen với tất cả nhân viên ở đây.
Ông nhận thấy dịch vị của chó tăng lên rất nhiều khi chúng nghe thấy tiếng bước chân của nhân viên thường mang thức ăn đến cho chúng. Ông nghĩ tiếng bước chân cho chú chó biết thức ăn đang được mang tới, thông qua thần kinh đại não ra mệnh lệnh làm cho dạ dày tiết ra dịch vị. Từ phát hiện này, Pavlov nghĩ rằng, bất kỳ một tín hiệu nào như tiếng chuông, tiếng huýt sáo... gắn liền với sự xuất hiện của thức ăn trong một thời gian dài liên tục thì sẽ cho ra kết quả tương tự. Ông lặp lại thí nghiệm này trong nhiều lần. Nhưng thí nghiệm này chỉ có tác dụng với những chú chó đã ở lâu trong phòng thí nghiệm. Còn với những chú chó mới được nuôi thì không được. Pavlov cho rằng đây là loại phản ứng đối với sự kích thích từ bên ngoài. Ông gọi đó là “phản xạ có điều kiện”.
Người tìm ra định luật phản xạ có điều kiện
Ông Pavlov đã tìm ra định luật "phản xạ có điều kiện" nhờ nghiên cứu chức năng hoạt động dạ dày của những chú chó.

Sau này, Pavlov còn đi sâu nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến hoạt động của thần kinh như: Công trình về sự tuần hoàn và tác động dinh dưỡng của hệ thống thần kinh; Các thực nghiệm về cơ chế thích ứng của các mạch máu; Công trình về hoạt động của các tuyến tiêu hóa; Về sinh lý của hoạt động của thần kinh cao cấp - bán cầu đại não; Học thuyết về các loại hình thần kinh của động vật và con người; Về vấn đề giấc ngủ và thôi miên; Về sinh lý học và tâm lý học trong nghiên cứu hoạt động hoạt động thần kinh cao cấp của động vật; Về bệnh lý học thực nghiệm của hoạt động thần kinh cao cấp.
Các nghiên cứu của Pavlov đã mở ra một kỷ nguyên mới về cách nhìn nhận hoạt động của hệ thần kinh cao cấp, đánh bại chủ nghĩa duy tâm, duy ý chí, đặt nền tảng cho sự phát triển y học, thú y và huấn luyện tạo thói quen cho động vật phục vụ ý muốn của con người.
Bằng hàng loạt các công trình vĩ đại của mình, Ivan Pavlov đã được trao Giải thưởng Nobel về sinh lý và y khoa năm 1904. Ngoài Giải Nobel, Ivan Pavlov còn được bầu làm Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga vào năm 1907; tiến sĩ danh dự tại Đại học Cambridge vào năm 1912 và được trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh vào năm 1915.
Có thể nói, cả cuộc đời mình, Pavlov đã dành cho khoa học, ông nói rằng “khoa học yêu cầu ở mỗi người phải có tinh thần làm việc hết sức khẩn trương và sự nhiệt tình to lớn”. Ông qua đời vào ngày 27/2/1936 tại Leningrad (nay là Saint Petersburg). Cho đến tận ngày nay, Pavlop vẫn được nhắc tới như một nhà khoa học vĩ đại, một công dân mẫu mực của nước Nga.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEifoZRW6lRWavqgP3QyPTjeYkHFnY7vYyzA3ifPrGFO-9Ki95gmlY25gMIOWNhRkuQ18wZ4ogAqyzGC_M1K-a3nTdunNWDe9DQpEOsfZXQN9cRbEiJDfSJro6_TJpMJqx5s4W4qfTfusWxj/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgNsham-vmGCH1C53cVUjI6xdh6LYP0MqDQT-kBnecGlZthZ5woKkn1ARduWVSdsommkLz9KWlGMOM_hM79qKnB7nGMdlTei8xP78DXFQAM9c7oAd8uXFc5x6DQWjBb1UXgQbiFdJ6y5AHV/
Quanh ta
1:16 PM|

Ivan Pavlov, người được mệnh danh là “nhà sinh lý học bậc nhất của thế giới” đã chào đời cách đây 165 năm, ngày 14/9/1849, ở Ryazan (Nga). Ông là người đã sáng tạo ra học thuyết duy vật về hoạt động thần kinh cấp cao và được nhận giải thưởng Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1904 cho sáng tạo này.
Lấy cảm hứng từ những ý tưởng tiến bộ của DJ Pisarev (nhà phê bình văn học Nga nổi tiếng), sau khi đọc cuốn “Nguồn gốc của các loài” của Charles Darwin và các tác phẩm của IM Sechnov (cha đẻ của sinh lý học Nga), chàng trai Ivan Petrovich Pavlov đã từ bỏ sự nghiệp tôn giáo để cống hiến cuộc đời mình cho khoa học. Và vì thế sau này, thế giới mới có một nhà sinh lý học kiệt xuất.
Pavlov được sinh ra trong một gia đình linh mục đông con. Ngay từ khi còn nhỏ, Pavlov đã là một đứa trẻ có óc tưởng tượng, giỏi quan sát, có nghị lực, bền bỉ và kiên nhẫn trong mọi việc. Những đức tính này đã giúp Pavlov rất nhiều cho những thí nghiệm thành công sau này.
Người tìm ra định luật phản xạ có điều kiện
Nhà sinh lý học Ivan Pavlov

Cũng giống như hầu hết trẻ em khác của Ryazan, Pavlov bắt đầu quá trình học tập tại trường của nhà thờ ở Ryazan và sau đó ghi danh tại một chủng viện thần học. Pavlov rất ham đọc sách. 13 tuổi, Pavlov đã đọc rất nhiều tác phẩm nổi tiếng. Về sau Pavlov dần dần có hứng thú với sách khoa học về sinh lý.
Năm 1870, Pavlov quyết định từ bỏ việc nghiên cứu thần học và đăng ký vào học tại Đại học Saint Petersburg để nghiên cứu các ngành khoa học tự nhiên và trở thành một nhà sinh vật học. Năm 1875, Pavlov hoàn thành khóa học của mình một cách xuất sắc và đến năm 1879, ông nhận được học vị tiến sĩ.
Vào thập niên 1890, Pavlov làm việc tại Viện y học thực nghiệm. Dưới sự chỉ đạo của ông, Viện đã trở thành một trong những trung tâm quan trọng nhất về nghiên cứu sinh lý. Cũng tại đây, Pavlov đã thực hiện phần lớn các nghiên cứu của ông về sinh lý tiêu hóa. Với những nghiên cứu này, Pavlov đã mở đường cho những tiến bộ mới trong y học lý thuyết và thực tiễn; đồng thời, cho thấy rằng hệ thống thần kinh góp phần điều chỉnh quá trình tiêu hóa.
Một trong những nghiên cứu thú vị và có ý nghĩa lịch sử của ông là về vấn đề tiết dịch vị. Chúng ta đều biết, khi ăn, dạ dày sẽ tiết ra một lượng lớn dịch vị để giúp tiêu hóa thức ăn. Với quyết tâm muốn biết đại não truyền mệnh lệnh cho dạ dày như thế nào, Pavlov tiến hành thí nghiệm đối với con chó đã sống ở phòng thí nghiệm nhiều năm, đã quen với tất cả nhân viên ở đây.
Ông nhận thấy dịch vị của chó tăng lên rất nhiều khi chúng nghe thấy tiếng bước chân của nhân viên thường mang thức ăn đến cho chúng. Ông nghĩ tiếng bước chân cho chú chó biết thức ăn đang được mang tới, thông qua thần kinh đại não ra mệnh lệnh làm cho dạ dày tiết ra dịch vị. Từ phát hiện này, Pavlov nghĩ rằng, bất kỳ một tín hiệu nào như tiếng chuông, tiếng huýt sáo... gắn liền với sự xuất hiện của thức ăn trong một thời gian dài liên tục thì sẽ cho ra kết quả tương tự. Ông lặp lại thí nghiệm này trong nhiều lần. Nhưng thí nghiệm này chỉ có tác dụng với những chú chó đã ở lâu trong phòng thí nghiệm. Còn với những chú chó mới được nuôi thì không được. Pavlov cho rằng đây là loại phản ứng đối với sự kích thích từ bên ngoài. Ông gọi đó là “phản xạ có điều kiện”.
Người tìm ra định luật phản xạ có điều kiện
Ông Pavlov đã tìm ra định luật "phản xạ có điều kiện" nhờ nghiên cứu chức năng hoạt động dạ dày của những chú chó.

Sau này, Pavlov còn đi sâu nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến hoạt động của thần kinh như: Công trình về sự tuần hoàn và tác động dinh dưỡng của hệ thống thần kinh; Các thực nghiệm về cơ chế thích ứng của các mạch máu; Công trình về hoạt động của các tuyến tiêu hóa; Về sinh lý của hoạt động của thần kinh cao cấp - bán cầu đại não; Học thuyết về các loại hình thần kinh của động vật và con người; Về vấn đề giấc ngủ và thôi miên; Về sinh lý học và tâm lý học trong nghiên cứu hoạt động hoạt động thần kinh cao cấp của động vật; Về bệnh lý học thực nghiệm của hoạt động thần kinh cao cấp.
Các nghiên cứu của Pavlov đã mở ra một kỷ nguyên mới về cách nhìn nhận hoạt động của hệ thần kinh cao cấp, đánh bại chủ nghĩa duy tâm, duy ý chí, đặt nền tảng cho sự phát triển y học, thú y và huấn luyện tạo thói quen cho động vật phục vụ ý muốn của con người.
Bằng hàng loạt các công trình vĩ đại của mình, Ivan Pavlov đã được trao Giải thưởng Nobel về sinh lý và y khoa năm 1904. Ngoài Giải Nobel, Ivan Pavlov còn được bầu làm Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga vào năm 1907; tiến sĩ danh dự tại Đại học Cambridge vào năm 1912 và được trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh vào năm 1915.
Có thể nói, cả cuộc đời mình, Pavlov đã dành cho khoa học, ông nói rằng “khoa học yêu cầu ở mỗi người phải có tinh thần làm việc hết sức khẩn trương và sự nhiệt tình to lớn”. Ông qua đời vào ngày 27/2/1936 tại Leningrad (nay là Saint Petersburg). Cho đến tận ngày nay, Pavlop vẫn được nhắc tới như một nhà khoa học vĩ đại, một công dân mẫu mực của nước Nga.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEifoZRW6lRWavqgP3QyPTjeYkHFnY7vYyzA3ifPrGFO-9Ki95gmlY25gMIOWNhRkuQ18wZ4ogAqyzGC_M1K-a3nTdunNWDe9DQpEOsfZXQN9cRbEiJDfSJro6_TJpMJqx5s4W4qfTfusWxj/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgNsham-vmGCH1C53cVUjI6xdh6LYP0MqDQT-kBnecGlZthZ5woKkn1ARduWVSdsommkLz9KWlGMOM_hM79qKnB7nGMdlTei8xP78DXFQAM9c7oAd8uXFc5x6DQWjBb1UXgQbiFdJ6y5AHV/

Từ những người bạn thân thiết và có chung niềm đam mê, Mileva Maric kết hôn và trở thành vợ đầu tiên của nhà vật lý nổi tiếng Albert Einstein. Cô em họ Elsa Lowenthal trở thành người bạn đời thứ hai của ông, đóng vai trò cộng sự và đồng hành đáng tin cậy.
Mileva Einstein-Maric sinh năm 1875 tại thị trấn Titel, Serbia, xuất thân trong một gia đình giàu có. Thời niên thiếu, vì có thành tích học tập tốt nên bà được phép theo học tại một ngôi trường chỉ có nam sinh ở Zagreb. Maric được mô tả là một học sinh xuất sắc ở các môn toán và vật lý. Năm 1896, Maric bắt đầu theo học tại Đại học Zurich, Thụy Sĩ trong một thời gian ngắn rồi chuyển sang Đại học Bách khoa Zurich (tiền thân của Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ hay ETH ngày nay). Trong số bạn bè ở trường đại học của Maric có Albert Einstein.
Trong thời gian học đại học, Maric từng có một kỳ học tập tại Heidelberg, Đức. Đây cũng là khoảng thời gian Maric bắt đầu trao đổi thư từ với Einstein, người từng đặt cho bà biệt danh "Dollie" và giục bà sớm quay trở về. Tình bạn đơn thuần bước sang một giai đoạn mới, sau khi Maric quay lại Thụy Sĩ.
Trong khi gia đình Maric ủng hộ mối quan hệ của hai người, thì cha mẹ của Einstein lại kiên quyết phản đối. Họ không ủng hộ việc Maric nhiều hơn Einstein 4 tuổi, đồng thời lại là người theo tôn giáo và đến từ một nền văn hóa khác.
Hai người phụ nữ trong cuộc đời Albert Einstein
Mileva Maric và Albert Einstein. (Ảnh: Wikipedia)

Tình yêu của Einstein và Maric tiếp tục nảy nở những ngày tháng sau đó. Tuy nhiên đây lại là thời điểm Maric gặp phải nhiều khó khăn trong học tập và nghiên cứu. Năm 1900, khi Einstein tốt nghiệp và bắt đầu tìm việc thì Maric thất bại trong kỳ thi cuối cùng, buộc phải làm việc cho một phòng thí nghiệm và chuẩn bị thi lại. Thế nhưng một lần nữa, những nỗ lực của bà lại không thành công. Trong khoảng thời gian này, bà phát hiện mình mang thai đứa con với Einstein.
Đầu năm 1902, Maric sinh con gái đầu lòng tại nhà bố mẹ đẻ ở Serbia. Tuy nhiên, cô con gái Lieserl không có thân phận rõ ràng. Về cơ bản, các hồ sơ liên quan đến Lieserl biến mất sau khi sinh. Nhiều câu chuyện kể lại rằng Lieserl đã được nhận làm con nuôi ở một gia đình khác. Lần cuối cùng tin tức về Lieserl được đề cập là năm 1903, khi thông tin trong một lá thư nói rằng cô bé đã mắc bệnh sốt ban đỏ.

Kết hôn

Einstein và Maric đoàn tụ năm 1903. Họ kết hôn tại thành phố Bern, Thụy Sĩ. Một năm sau, họ chào đón cậu con trai Hans Albert. Người con thứ ba của họ chào đời năm 1910, được đặt tên là Eduard.
Einstein trở thành giáo sư tại ETH vào năm 1912. Trong khoảng thời gian này, Einstein bắt đầu mối quan hệ với em họ là Elsa Lowenthal. Năm 1914, Einstein đến Berlin. Maric và hai con theo chồng đến đây, nhưng rồi sớm quay lại Thụy Sĩ. Einstein yêu cầu ly hôn năm 1916, quyết định ly dị chính thức có hiệu lực ba năm sau đó. Theo thỏa thuận, Maric được nhận số tiền thưởng của giải Nobel khi Einstein nhận giải thưởng cao quý này vào năm 1921.
Cuộc sống của Maric sau khi ly hôn với Einstein gặp khá nhiều khó khăn. Bà trông nom một nhà trọ và dạy học để kiếm sống. Mọi thứ dường như đổ sụp trước mắt khi con trai Eduard bị suy nhược thần kinh vào năm 1930. Sau khi được chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt, Eduard phải sống trong các cơ sở từ thiện, còn anh trai Hans Albert chuyển đến Mỹ cùng gia đình vào năm 1938. Mileva Einstein-Maric qua đời 10 năm sau đó.

Cô em họ - người vợ thứ hai

Elsa Lowenthal là em họ xa của Einstein, sinh ngày 18/1/1876 tại thành phố Ulm, Đức. Tình cảm giữa hai người trở nên thất thiết và gần gũi hơn từ khoảng năm 1912, mặc dù lúc này Einstein đã kết hôn với Maric. Trước đó, Elsa từng kết hôn và ly dị. Bà có hai con gái là Ilse và Margo.
Hai người phụ nữ trong cuộc đời Albert Einstein
Elsa Lowenthal cùng Albert Einstein. (Ảnh: Wikipedia)

Elsa được coi là người trợ lý, người đồng hành đáng tin cậy bên cạnh Einstein. Năm 1917, bệnh tình của nhà vật lý nổi tiếng có dấu hiệu nặng hơn, Elsa là người bên cạnh và chăm sóc giúp ông khỏe mạnh trở lại. Hai người kết hôn ngày 2/6/1919.
Khi tên tuổi của Einstein ngày càng được biết đến nhiều hơn trong giới khoa học, Elsa là người bên cạnh ông trong nhiều chuyến đi đến khắp nơi trên thế giới. Họ từng đến Mỹ năm 1921, cùng năm ông nhận giải Nobel Vật lý. Elsa đóng vai trò hỗ trợ cho sự nghiệp nghiên cứu của Einstein, giúp quản lý công việc hàng ngày cho đến năm 1928. Thậm chí sau khi ông có thư ký mới, Elsa vẫn tiếp tục là người đồng hành không mệt mỏi của chồng.
Sau khi đảng Quốc xã lên nắm quyền, mọi thứ bắt đầu trở nên khó khăn với Einstein. Ông từng lên tiếng phản đối đảng Quốc xã vì chính sách chống người Do Thái. Năm 1933, khi cùng Elsa đến các nước khác, Einstein phát hiện nhà của họ bị lục soát, tài sản sau đó bị chiếm giữ. Nhận thấy không thể quay trở lại Đức, Einstein quyết định ở lại Mỹ. Tại đây, Einstein trở thành giáo sư về vật lý lý thuyết tại Viện Nghiên cứu Princeton, bang New Jersey.
Elsa biết tin cô con gái Ilse bị ung thư một năm sau đó và đến Paris để ở bên cạnh con trong những ngày tháng cuối cùng. Không lâu sau cái chết của Ilse, Elsa gặp các vấn đề về tim và phổi. Ngày 20/12/1936, bà qua đời trong ngôi nhà tại Princeton.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEge4qQVFf4oNp7ErnHJC_I-VSv266fcECubqGpfxAhc2BfaeHTum76qCz7e_SImGFlih4a-ou_NF36FtDrC0dtdYhxZWpuUNSjjC3V20M-9CRHae5UqOF0LfQRAhdSHaVvxzsoReSEZnXRg/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgbCDd7U-GCiX_0O3yCFYGVY4bIKuAKlZLN9kMj6Q4Y0O62x4VTr3XlVcZ71jzWx3eh-JafzPbYImNChbZZAMcjO6-zGaD0RKnZcSGhj9vKFTusFh9Xjey9S9B9RVRdyU6hA0N0TZmYGnVx/
Quanh ta
1:16 PM|

Từ những người bạn thân thiết và có chung niềm đam mê, Mileva Maric kết hôn và trở thành vợ đầu tiên của nhà vật lý nổi tiếng Albert Einstein. Cô em họ Elsa Lowenthal trở thành người bạn đời thứ hai của ông, đóng vai trò cộng sự và đồng hành đáng tin cậy.
Mileva Einstein-Maric sinh năm 1875 tại thị trấn Titel, Serbia, xuất thân trong một gia đình giàu có. Thời niên thiếu, vì có thành tích học tập tốt nên bà được phép theo học tại một ngôi trường chỉ có nam sinh ở Zagreb. Maric được mô tả là một học sinh xuất sắc ở các môn toán và vật lý. Năm 1896, Maric bắt đầu theo học tại Đại học Zurich, Thụy Sĩ trong một thời gian ngắn rồi chuyển sang Đại học Bách khoa Zurich (tiền thân của Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ hay ETH ngày nay). Trong số bạn bè ở trường đại học của Maric có Albert Einstein.
Trong thời gian học đại học, Maric từng có một kỳ học tập tại Heidelberg, Đức. Đây cũng là khoảng thời gian Maric bắt đầu trao đổi thư từ với Einstein, người từng đặt cho bà biệt danh "Dollie" và giục bà sớm quay trở về. Tình bạn đơn thuần bước sang một giai đoạn mới, sau khi Maric quay lại Thụy Sĩ.
Trong khi gia đình Maric ủng hộ mối quan hệ của hai người, thì cha mẹ của Einstein lại kiên quyết phản đối. Họ không ủng hộ việc Maric nhiều hơn Einstein 4 tuổi, đồng thời lại là người theo tôn giáo và đến từ một nền văn hóa khác.
Hai người phụ nữ trong cuộc đời Albert Einstein
Mileva Maric và Albert Einstein. (Ảnh: Wikipedia)

Tình yêu của Einstein và Maric tiếp tục nảy nở những ngày tháng sau đó. Tuy nhiên đây lại là thời điểm Maric gặp phải nhiều khó khăn trong học tập và nghiên cứu. Năm 1900, khi Einstein tốt nghiệp và bắt đầu tìm việc thì Maric thất bại trong kỳ thi cuối cùng, buộc phải làm việc cho một phòng thí nghiệm và chuẩn bị thi lại. Thế nhưng một lần nữa, những nỗ lực của bà lại không thành công. Trong khoảng thời gian này, bà phát hiện mình mang thai đứa con với Einstein.
Đầu năm 1902, Maric sinh con gái đầu lòng tại nhà bố mẹ đẻ ở Serbia. Tuy nhiên, cô con gái Lieserl không có thân phận rõ ràng. Về cơ bản, các hồ sơ liên quan đến Lieserl biến mất sau khi sinh. Nhiều câu chuyện kể lại rằng Lieserl đã được nhận làm con nuôi ở một gia đình khác. Lần cuối cùng tin tức về Lieserl được đề cập là năm 1903, khi thông tin trong một lá thư nói rằng cô bé đã mắc bệnh sốt ban đỏ.

Kết hôn

Einstein và Maric đoàn tụ năm 1903. Họ kết hôn tại thành phố Bern, Thụy Sĩ. Một năm sau, họ chào đón cậu con trai Hans Albert. Người con thứ ba của họ chào đời năm 1910, được đặt tên là Eduard.
Einstein trở thành giáo sư tại ETH vào năm 1912. Trong khoảng thời gian này, Einstein bắt đầu mối quan hệ với em họ là Elsa Lowenthal. Năm 1914, Einstein đến Berlin. Maric và hai con theo chồng đến đây, nhưng rồi sớm quay lại Thụy Sĩ. Einstein yêu cầu ly hôn năm 1916, quyết định ly dị chính thức có hiệu lực ba năm sau đó. Theo thỏa thuận, Maric được nhận số tiền thưởng của giải Nobel khi Einstein nhận giải thưởng cao quý này vào năm 1921.
Cuộc sống của Maric sau khi ly hôn với Einstein gặp khá nhiều khó khăn. Bà trông nom một nhà trọ và dạy học để kiếm sống. Mọi thứ dường như đổ sụp trước mắt khi con trai Eduard bị suy nhược thần kinh vào năm 1930. Sau khi được chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt, Eduard phải sống trong các cơ sở từ thiện, còn anh trai Hans Albert chuyển đến Mỹ cùng gia đình vào năm 1938. Mileva Einstein-Maric qua đời 10 năm sau đó.

Cô em họ - người vợ thứ hai

Elsa Lowenthal là em họ xa của Einstein, sinh ngày 18/1/1876 tại thành phố Ulm, Đức. Tình cảm giữa hai người trở nên thất thiết và gần gũi hơn từ khoảng năm 1912, mặc dù lúc này Einstein đã kết hôn với Maric. Trước đó, Elsa từng kết hôn và ly dị. Bà có hai con gái là Ilse và Margo.
Hai người phụ nữ trong cuộc đời Albert Einstein
Elsa Lowenthal cùng Albert Einstein. (Ảnh: Wikipedia)

Elsa được coi là người trợ lý, người đồng hành đáng tin cậy bên cạnh Einstein. Năm 1917, bệnh tình của nhà vật lý nổi tiếng có dấu hiệu nặng hơn, Elsa là người bên cạnh và chăm sóc giúp ông khỏe mạnh trở lại. Hai người kết hôn ngày 2/6/1919.
Khi tên tuổi của Einstein ngày càng được biết đến nhiều hơn trong giới khoa học, Elsa là người bên cạnh ông trong nhiều chuyến đi đến khắp nơi trên thế giới. Họ từng đến Mỹ năm 1921, cùng năm ông nhận giải Nobel Vật lý. Elsa đóng vai trò hỗ trợ cho sự nghiệp nghiên cứu của Einstein, giúp quản lý công việc hàng ngày cho đến năm 1928. Thậm chí sau khi ông có thư ký mới, Elsa vẫn tiếp tục là người đồng hành không mệt mỏi của chồng.
Sau khi đảng Quốc xã lên nắm quyền, mọi thứ bắt đầu trở nên khó khăn với Einstein. Ông từng lên tiếng phản đối đảng Quốc xã vì chính sách chống người Do Thái. Năm 1933, khi cùng Elsa đến các nước khác, Einstein phát hiện nhà của họ bị lục soát, tài sản sau đó bị chiếm giữ. Nhận thấy không thể quay trở lại Đức, Einstein quyết định ở lại Mỹ. Tại đây, Einstein trở thành giáo sư về vật lý lý thuyết tại Viện Nghiên cứu Princeton, bang New Jersey.
Elsa biết tin cô con gái Ilse bị ung thư một năm sau đó và đến Paris để ở bên cạnh con trong những ngày tháng cuối cùng. Không lâu sau cái chết của Ilse, Elsa gặp các vấn đề về tim và phổi. Ngày 20/12/1936, bà qua đời trong ngôi nhà tại Princeton.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEge4qQVFf4oNp7ErnHJC_I-VSv266fcECubqGpfxAhc2BfaeHTum76qCz7e_SImGFlih4a-ou_NF36FtDrC0dtdYhxZWpuUNSjjC3V20M-9CRHae5UqOF0LfQRAhdSHaVvxzsoReSEZnXRg/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgbCDd7U-GCiX_0O3yCFYGVY4bIKuAKlZLN9kMj6Q4Y0O62x4VTr3XlVcZ71jzWx3eh-JafzPbYImNChbZZAMcjO6-zGaD0RKnZcSGhj9vKFTusFh9Xjey9S9B9RVRdyU6hA0N0TZmYGnVx/

Cách đây 5 năm, ngày 12/9/2009, Norman Borlaug, cha đẻ của cuộc “cách mạng xanh”, người đã cống hiến suốt đời để cải thiện đời sống cũng như cứu đói hàng trăm triệu nông dân nghèo trên toàn cầu, đã qua đời ở tuổi 95.
Ông là nhà nông học duy nhất cho đến nay được trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình. Ông cũng từng được tạp chí Time (Mỹ) ghi tên vào danh sách 100 nhà trí tuệ lớn nhất thế kỷ XX.
Sinh ngày 25/3/1914 và lớn lên trên cánh đồng Iowa, nước Mỹ, từ thời thơ ấu, Norman Borlaug đã đam mê với nghề nông. Những người thầy từng dạy ông đều nhận định rằng ở Norman Borlaug ẩn chứa những bí ẩn của đất đai, của đồng cỏ và điều đó dường như là định mệnh của người đàn ông đặc biệt này.
5 năm ngày mất của Norman Borlaug - Cha đẻ của cuộc “cách mạng xanh”
Norman Borlaug

Ám ảnh bởi cái đói

Học xong trung học, Norman Borlaug quyết định rời nông trại của gia đình để theo học ngành thực vật tại Trường đại học Minnesota danh tiếng của Mỹ. Năm 1942, ông nhận bằng tiến sĩ ngành di truyền và bệnh cây; ông bắt đầu công việc nghiên cứu về thuốc bảo vệ và bảo quản thực vật tại tập đoàn Du Pont de Nemours.
Vào nửa cuối thế kỷ XX, các nước kém phát triển đứng trước nguy cơ thiếu ăn trầm trọng, do dân số bùng nổ mạnh trong khi hệ thống nông nghiệp lạc hậu không đáp ứng được nhu cầu tăng cao về lương thực. Điều đó đã để lại những vết sẹo trong tâm hồn và suy nghĩ của Borlaug.

Làm “cách mạng xanh”

Bắt đầu với Mexico, năm 1944, sau 10 năm nghiên cứu đầy gian khổ và vất vả với hơn 6.000 lần lai giống thử nghiệm, Norman Borlaug đã thành công trong việc cải tiến giống lúa mì lùn - một giống lúa mì có khả năng phòng ngừa sâu bệnh tốt, khắc phục nhược điểm dễ gãy khi trổ bông của giống lúa mì cao và đặc biệt cho sản lượng cao vượt trội.
Norman Borlaug đã kéo người dân Mexico ra khỏi nạn đói và biến đất nước Mỹ Latinh nghèo đói này thành một nước xuất khẩu lúa mì. Người dân Mexico tôn vinh ông là “nhà trồng trọt thiên tài”. Để ghi nhận đóng góp của Norman Borlaug, năm 1968, người dân thành phố Sonora, Mexico đã lấy tên của ông để đặt cho một con đường.
5 năm ngày mất của Norman Borlaug - Cha đẻ của cuộc “cách mạng xanh”
Chính nhờ sự lăn lộn suốt ngày dưới cánh đồng chứ không phải trong phòng thí nghiệm mà ông đã cứu hàng chục triệu người khỏi cái đói.

Ấn Độ và Pakistan là những nước đầu tiên ở châu Á được hưởng lợi từ thành quả nghiên cứu không biết mệt mỏi của Norman Borlaug. Năm 1966, Ấn Độ đã mua 18.000 tấn giống lúa mì lùn để gieo trồng nhằm đối phó với nạn đói đang hoành hành.
Năm 1967, Pakistan cũng nhập khoảng 42.000 tấn lúa mì giống và sau đó đã có được một vụ mùa bội thu. Thành quả của Norman Borlaug đem lại là sự dư thừa lương thực cho 2 quốc gia đông dân này. Sau đó, một loạt quốc gia khác như Thái Lan, Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ... cũng nhập khẩu và sử dụng giống lúa mì này... Một cuộc cách mạng xanh đã thành công trên toàn cầu. Và người ta gọi Norman Borlaug với cái tên đầy kính trọng: “Cha đẻ của cách mạng xanh”.
Norman Borlaug còn cùng nhiều nhà khoa học thực hiện nhiều nghiên cứu để cải tiến các giống lúa và ngô giúp đẩy mạnh sản xuất lương thực của nhiều nước ở châu Á, Trung Đông, Nam Mỹ và châu Phi.
Nhờ cuộc “Cách mạng xanh”, từ năm 1960 đến năm 1990, sản lượng nông nghiệp trên toàn thế giới đã tăng gấp đôi và đã cứu sống khoảng 1 tỷ người ở những nước đang phát triển khỏi nguy cơ chết đói. Năm 2006, một cuốn sách viết về Norman Borlaug đã được xuất bản với tiêu đề “Người nuôi sống cả thế giới”.

Một con người nhân ái

Năm 1970, Borlaug được trao giải Nobel Hòa bình vì thành tích tạo ra các loại giống lúa tốt và giúp làm cách mạng nông nghiệp ở các nước đang phát triển. Nhưng Nornam Borlaug là người luôn ẩn mình và không bao giờ đề cao những đóng góp của mình.
5 năm ngày mất của Norman Borlaug - Cha đẻ của cuộc “cách mạng xanh”
Nornam Borlaug cho rằng, tất cả những gì ông làm chỉ là để giúp đỡ đồng loại và lúa mỳ chỉ là phương tiện chuyển tải mối quan tâm của ông tới việc cải thiện cuộc sống của con người.

Ông cho rằng, tất cả những gì ông làm chỉ là để giúp đỡ đồng loại và lúa mỳ chỉ là phương tiện chuyển tải mối quan tâm của ông tới việc cải thiện cuộc sống của con người.
Năm 1986, Borlaug sáng lập Giải thưởng lương thực thế giới, được coi là “giải Nobel trong lĩnh vực nghiên cứu lương thực”, nhằm tôn vinh những cá nhân đã góp phần nâng cao giá trị và chất lượng của lương thực trên toàn thế giới. Đây được coi là cuộc cách mạng thứ 2 của ông.
Năm 90 tuổi, ông vẫn không ngừng nghĩ về việc chống lại nạn đói trên thế giới. Ông nói: “Chúng ta vẫn còn rất nhiều người nghèo đói, thiếu miếng ăn và chính điều này là mầm họa cho cả thế giới”.
Mặc dù tuổi cao, ông lại bắt tay vào thực hiện dự án phổ biến kỹ thuật sinh học trong trồng trọt tại châu Phi và đã nghiên cứu thành công một giống lúa mì chịu hạn cho vùng đất Phi châu cằn cỗi.
Ghi nhận những cống hiến đặc biệt cao quý cho nhân loại, ông đã được trao tặng Huân chương Tự do của Tổng thống Mỹ năm 1977, Huân chương vàng của Quốc hội Mỹ năm 2007 cùng nhiều giải thưởng danh dự, cao quý của nhiều nước, tổ chức và trường đại học trên thế giới.
Thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng xanh lần hai trong khuôn khổ cách mạng công nghệ sinh học với việc tạo ra và đưa vào sử dụng nhiều giống cây lương thực và cây công nghiệp có khả năng chống chịu tốt và năng suất cao trên cơ sở áp dụng kỹ thuật di truyền và sinh học phân tử. Và đó cũng là mơ ước của tiến sĩ Norman Borlaug trong cuộc chiến chống đói nghèo cho hàng triệu triệu nông dân trên thế giới.
Tiến sĩ Norman Borlaug đã ra đi vĩnh viễn, nhưng ngọn lửa chống nghèo đói thế giới do ông thắp lên chắc chắn vẫn mãi tỏa sáng.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgAq6t_BWMhLIfg4niu9IT60OwNVla7P2dPHf6NJeCXoGQ2RF8gbUzcGK02MWI-LKjC11Jr7hZAzlRe_A2L9D7ST_BXSS7jOMk34RTf5g7tBq4J6fyq1AAvNG0VO-PcAWcATbzA-zOp7CY/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgihvsuRN-0RkuBTrzhVWdbK0enyw63P6zGEVtiI6aK-cR8k3kerRdmABypUaH95QH76bbtnBXcNxk_2nGor4N6c7orRxKPDbNAh1G_P-kYrr6ILQZaMZ9saO02tTvB_4En2jbQk1DtJW0/
Quanh ta
10:26 AM|

Cách đây 5 năm, ngày 12/9/2009, Norman Borlaug, cha đẻ của cuộc “cách mạng xanh”, người đã cống hiến suốt đời để cải thiện đời sống cũng như cứu đói hàng trăm triệu nông dân nghèo trên toàn cầu, đã qua đời ở tuổi 95.
Ông là nhà nông học duy nhất cho đến nay được trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình. Ông cũng từng được tạp chí Time (Mỹ) ghi tên vào danh sách 100 nhà trí tuệ lớn nhất thế kỷ XX.
Sinh ngày 25/3/1914 và lớn lên trên cánh đồng Iowa, nước Mỹ, từ thời thơ ấu, Norman Borlaug đã đam mê với nghề nông. Những người thầy từng dạy ông đều nhận định rằng ở Norman Borlaug ẩn chứa những bí ẩn của đất đai, của đồng cỏ và điều đó dường như là định mệnh của người đàn ông đặc biệt này.
5 năm ngày mất của Norman Borlaug - Cha đẻ của cuộc “cách mạng xanh”
Norman Borlaug

Ám ảnh bởi cái đói

Học xong trung học, Norman Borlaug quyết định rời nông trại của gia đình để theo học ngành thực vật tại Trường đại học Minnesota danh tiếng của Mỹ. Năm 1942, ông nhận bằng tiến sĩ ngành di truyền và bệnh cây; ông bắt đầu công việc nghiên cứu về thuốc bảo vệ và bảo quản thực vật tại tập đoàn Du Pont de Nemours.
Vào nửa cuối thế kỷ XX, các nước kém phát triển đứng trước nguy cơ thiếu ăn trầm trọng, do dân số bùng nổ mạnh trong khi hệ thống nông nghiệp lạc hậu không đáp ứng được nhu cầu tăng cao về lương thực. Điều đó đã để lại những vết sẹo trong tâm hồn và suy nghĩ của Borlaug.

Làm “cách mạng xanh”

Bắt đầu với Mexico, năm 1944, sau 10 năm nghiên cứu đầy gian khổ và vất vả với hơn 6.000 lần lai giống thử nghiệm, Norman Borlaug đã thành công trong việc cải tiến giống lúa mì lùn - một giống lúa mì có khả năng phòng ngừa sâu bệnh tốt, khắc phục nhược điểm dễ gãy khi trổ bông của giống lúa mì cao và đặc biệt cho sản lượng cao vượt trội.
Norman Borlaug đã kéo người dân Mexico ra khỏi nạn đói và biến đất nước Mỹ Latinh nghèo đói này thành một nước xuất khẩu lúa mì. Người dân Mexico tôn vinh ông là “nhà trồng trọt thiên tài”. Để ghi nhận đóng góp của Norman Borlaug, năm 1968, người dân thành phố Sonora, Mexico đã lấy tên của ông để đặt cho một con đường.
5 năm ngày mất của Norman Borlaug - Cha đẻ của cuộc “cách mạng xanh”
Chính nhờ sự lăn lộn suốt ngày dưới cánh đồng chứ không phải trong phòng thí nghiệm mà ông đã cứu hàng chục triệu người khỏi cái đói.

Ấn Độ và Pakistan là những nước đầu tiên ở châu Á được hưởng lợi từ thành quả nghiên cứu không biết mệt mỏi của Norman Borlaug. Năm 1966, Ấn Độ đã mua 18.000 tấn giống lúa mì lùn để gieo trồng nhằm đối phó với nạn đói đang hoành hành.
Năm 1967, Pakistan cũng nhập khoảng 42.000 tấn lúa mì giống và sau đó đã có được một vụ mùa bội thu. Thành quả của Norman Borlaug đem lại là sự dư thừa lương thực cho 2 quốc gia đông dân này. Sau đó, một loạt quốc gia khác như Thái Lan, Philippines, Thổ Nhĩ Kỳ... cũng nhập khẩu và sử dụng giống lúa mì này... Một cuộc cách mạng xanh đã thành công trên toàn cầu. Và người ta gọi Norman Borlaug với cái tên đầy kính trọng: “Cha đẻ của cách mạng xanh”.
Norman Borlaug còn cùng nhiều nhà khoa học thực hiện nhiều nghiên cứu để cải tiến các giống lúa và ngô giúp đẩy mạnh sản xuất lương thực của nhiều nước ở châu Á, Trung Đông, Nam Mỹ và châu Phi.
Nhờ cuộc “Cách mạng xanh”, từ năm 1960 đến năm 1990, sản lượng nông nghiệp trên toàn thế giới đã tăng gấp đôi và đã cứu sống khoảng 1 tỷ người ở những nước đang phát triển khỏi nguy cơ chết đói. Năm 2006, một cuốn sách viết về Norman Borlaug đã được xuất bản với tiêu đề “Người nuôi sống cả thế giới”.

Một con người nhân ái

Năm 1970, Borlaug được trao giải Nobel Hòa bình vì thành tích tạo ra các loại giống lúa tốt và giúp làm cách mạng nông nghiệp ở các nước đang phát triển. Nhưng Nornam Borlaug là người luôn ẩn mình và không bao giờ đề cao những đóng góp của mình.
5 năm ngày mất của Norman Borlaug - Cha đẻ của cuộc “cách mạng xanh”
Nornam Borlaug cho rằng, tất cả những gì ông làm chỉ là để giúp đỡ đồng loại và lúa mỳ chỉ là phương tiện chuyển tải mối quan tâm của ông tới việc cải thiện cuộc sống của con người.

Ông cho rằng, tất cả những gì ông làm chỉ là để giúp đỡ đồng loại và lúa mỳ chỉ là phương tiện chuyển tải mối quan tâm của ông tới việc cải thiện cuộc sống của con người.
Năm 1986, Borlaug sáng lập Giải thưởng lương thực thế giới, được coi là “giải Nobel trong lĩnh vực nghiên cứu lương thực”, nhằm tôn vinh những cá nhân đã góp phần nâng cao giá trị và chất lượng của lương thực trên toàn thế giới. Đây được coi là cuộc cách mạng thứ 2 của ông.
Năm 90 tuổi, ông vẫn không ngừng nghĩ về việc chống lại nạn đói trên thế giới. Ông nói: “Chúng ta vẫn còn rất nhiều người nghèo đói, thiếu miếng ăn và chính điều này là mầm họa cho cả thế giới”.
Mặc dù tuổi cao, ông lại bắt tay vào thực hiện dự án phổ biến kỹ thuật sinh học trong trồng trọt tại châu Phi và đã nghiên cứu thành công một giống lúa mì chịu hạn cho vùng đất Phi châu cằn cỗi.
Ghi nhận những cống hiến đặc biệt cao quý cho nhân loại, ông đã được trao tặng Huân chương Tự do của Tổng thống Mỹ năm 1977, Huân chương vàng của Quốc hội Mỹ năm 2007 cùng nhiều giải thưởng danh dự, cao quý của nhiều nước, tổ chức và trường đại học trên thế giới.
Thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng xanh lần hai trong khuôn khổ cách mạng công nghệ sinh học với việc tạo ra và đưa vào sử dụng nhiều giống cây lương thực và cây công nghiệp có khả năng chống chịu tốt và năng suất cao trên cơ sở áp dụng kỹ thuật di truyền và sinh học phân tử. Và đó cũng là mơ ước của tiến sĩ Norman Borlaug trong cuộc chiến chống đói nghèo cho hàng triệu triệu nông dân trên thế giới.
Tiến sĩ Norman Borlaug đã ra đi vĩnh viễn, nhưng ngọn lửa chống nghèo đói thế giới do ông thắp lên chắc chắn vẫn mãi tỏa sáng.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgAq6t_BWMhLIfg4niu9IT60OwNVla7P2dPHf6NJeCXoGQ2RF8gbUzcGK02MWI-LKjC11Jr7hZAzlRe_A2L9D7ST_BXSS7jOMk34RTf5g7tBq4J6fyq1AAvNG0VO-PcAWcATbzA-zOp7CY/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgihvsuRN-0RkuBTrzhVWdbK0enyw63P6zGEVtiI6aK-cR8k3kerRdmABypUaH95QH76bbtnBXcNxk_2nGor4N6c7orRxKPDbNAh1G_P-kYrr6ILQZaMZ9saO02tTvB_4En2jbQk1DtJW0/

Marie Curie, nhà vật lý và hóa học nổi tiếng với công trình nghiên cứu về phóng xạ, là phụ nữ đầu tiên và duy nhất nhận giải thưởng Nobel cao quý ở hai lĩnh vực vật lý và hóa học.
Maria Sklodowska sinh ngày 7/11/1867 tại thủ đô Warsaw, Ba Lan, là con gái út trong một gia đình có 5 người con và có bố mẹ đều là giáo viên. Khi còn nhỏ, Marie được đánh giá là một bé gái tò mò, sáng dạ và xuất sắc ở trường học. Bi kịch xảy đến với gia đình Marie khi mẹ cô qua đời vì bệnh lao phổi. Năm ấy, Marie mới 11 tuổi.
Marie luôn giữ vị trí đứng đầu ở trường trong những năm tháng đi học. Mặc dù vậy, những thành tích học tập có được không thể giúp Marie được nhận vào học ở Đại học Warsaw, ngôi trường chỉ dành cho nam sinh. Marie tiếp tục sự nghiệp học hành ở một "trường đại học chui" có các lớp bí mật dưới lòng đất.
Marie và chị gái Bronya từng mơ ước du học để có tấm bằng chính thức nhưng họ không có khả năng chi trả học phí. Marie quyết định đi làm để hỗ trợ Bronya theo học y khoa. Trong gần 5 năm, Marie làm gia sư và giáo viên dạy trẻ để kiếm tiền trang trải chi phí. Thời gian rảnh, cô tiếp tục nghiên cứu, đọc sách về vật lý, hóa học và toán học.
Marie Curie - Từ cô bé làm thuê đến hai lần nhận giải Nobel
Chân dung Marie Curie, người phụ nữ đầu tiên nhận giải Nobel. (Ảnh: Wikicommons)

Năm 1891, Marie hiện thực hóa giấc mơ đến Paris, nơi cô theo học tại Đại học Sorbonne. Sau những ngày tháng lao vào nghiên cứu không ngừng nghỉ, cùng với chế độ ăn uống thiếu thốn chỉ có bánh mì phết bơ và trà, Marie thường xuyên gặp các vấn đề về sức khỏe.
Hai năm sau, Marie nhận bằng thạc sĩ vật lý và tiếp tục hoàn thành chương trình hóa học. Trong khoảng thời gian này, Marie được tham gia một nghiên cứu về các loại thép và đặc tính từ của chúng. Cô được người quen giới thiệu với nhà vật lý học người Pháp Pierre Curie khi đang tìm kiếm một địa điểm thích hợp để thực hiện thí nghiệm. Khoa học trở thành cây cầu nối bén duyên cho hai nhà nghiên cứu. Không lâu sau đó, Marie chấp thuận lời cầu hôn của Pierre và bắt đầu được gọi bằng tên Marie Curie. Con gái đầu lòng của Marie và Pierre chào đời vào năm 1897.

Khám phá và tôn vinh

Không chỉ cống hiến và tận tâm cho nghiên cứu khoa học, Marie hay Pierre đều hết lòng vì người còn lại. Thời gian đầu, họ làm việc theo các dự án riêng. Marie tham gia nghiên cứu cùng Henri Becquerel, một nhà vật lý học người Pháp, và bắt đầu tự tiến hành các thí nghiệm riêng về tia urani. Bà phát hiện ra rằng, các tia sẽ không thay đổi bất kể điều kiện hay hình dạng của urani, và các tia này xuất phát từ cấu trúc nguyên tử của nguyên tố. Phát hiện mang tính đột phá ấy đã mở đường cho lĩnh vực vật lý nguyên tử, trong đó, Marie trở thành người đưa ra khái niệm phóng xạ để mô tả hiện tượng này.
Những năm sau, Pierre tạm gác công việc sang một bên và cùng hỗ trợ Marie trong các nghiên cứu về phóng xạ. Phân tích khoáng vật pitchblende, họ phát hiện một nguyên tố phóng xạ mới và đặt tên là polonium, theo tên quê hương Ba Lan của Marie, vào năm 1898. Nguyên tố còn lại được gọi là radium. Năm 1902, Marie cùng chồng công bố kết quả lọc radium tinh khiết, đánh dấu sự tồn tại của nguyên tố quý này.
Marie Curie đi vào lịch sử khoa học thế giới vào năm 1903 khi trở thành người phụ nữ đầu tiên nhận giải Nobel lĩnh vực vật lý. Cùng với chồng và nhà nghiên cứu Henri Becquerel, bà được vinh danh vì những cống hiến cho nghiên cứu phóng xạ. Với số tiền thưởng từ thưởng Nobel, Marie cùng Pierre tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu khoa học. Họ có cô con gái thứ hai một năm sau đó.
Năm 1906, Pierre qua đời vì bị một chiếc xe ngựa kéo đè lên khi đang đi trên phố. Vượt qua nỗi đau mất mát, Marie bắt đầu sự nghiệp giảng dạy tại trường Sorbonne và trở thành nữ giáo sư đầu tiên của trường đại học này.
8 năm sau, vinh dự tiếp tục đến với nhà nghiên cứu khi bà nhận được giải Nobel thứ hai, trở thành nhà khoa học đầu tiên nhận hai giải thưởng cao quý. Giải Nobel hóa học ghi nhận những khám phá của Marie trong việc tìm ra hai nguyên tố hóa học radium và polonium. Trong bài diễn văn, Marie xúc động chia sẻ vinh dự này với người chồng quá cố.
Trong khoảng thời gian này, bà cùng một số nhà khoa học nổi tiếng khác, trong đó có Albert Einstein và Max Planck, tham dự Hội nghị Solvay về Vật lý đầu tiên. Họ cùng nhau thảo luận về những khám phá mang tính đột phá trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu.
Marie Curie - Từ cô bé làm thuê đến hai lần nhận giải Nobel
Marie Curie cùng chồng Pierre Curie trong phòng nghiên cứu. (Ảnh: Wikipedia)

Những năm tháng cuối đời

Tên tuổi của Marie bị ảnh hưởng kể từ sau năm 1911 khi những tin đồn về mối quan hệ của bà cùng với học trò cũ của chồng là Paul Langevin được công chúng chú ý. Thậm chí, bà còn được cho là nguyên nhân khiến gia đình Paul Langevin tan vỡ.
Năm 1914, Thế chiến II bùng nổ. Marie dành thời gian, tâm sức và nghiên cứu để hỗ trợ lĩnh vực y tế, đồng thời vận động sử dụng dụng máy chụp
X-quang di dộng để điều trị cho người bị thương. Trong hai năm 1921 và 1929, bà đến Mỹ để gây quỹ cho nghiên cứu radium và thành lập một viện nghiên cứu radium ở Warsaw.
Những năm tháng miệt mài làm việc và nghiên cứu với các chất phóng xạ có ảnh hưởng đến sức khỏe của Marie. Năm 1934, bà đến Viện điều dưỡng Sancellemoz ở Passy, Pháp để nghỉ ngơi và hồi phục sức khỏe. Bà qua đời ngày 4/7/1934, với chẩn đoán do thiếu máu không tái tạo, có thể ảnh hưởng từ việc tiếp xúc trong thời gian dài với bức xạ.
Năm 1995, tro xương của bà cùng chồng được đưa vào điện Panthéon ở Paris, nơi an nghỉ của của các vĩ nhân lịch sử và những người đã làm rạng danh cho nước Pháp. Marie trở thành người phụ nữ đầu tiên và duy nhất được an nghỉ tại đây.
Ngoài những cống hiến cho nghiên cứu khoa học, Marie còn là người thổi bùng đam mê khoa học các thế hệ sau. Tiếp nối sự nghiệp của cha mẹ, con gái của bà là Irène Joliot-Curie từng nhận giải Nobel về hóa học vào năm 1935.
Ngày nay, nhiều viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục, trung tâm y tế trên thế giới được đặt theo tên của Marie Curie.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj5yOnR9oCnjQUCKIFuvm_YluU9ez7aQwClrR8VNGh_VjYrch6sCRIuIfc3xh5XFebFjyXMswP6XV9yUSM4SW36QfyqJxPiu9WSEcrdX5qMEVgH95vAuQjjmMQI2hYqzrmHKDOi2NAZDzo/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiVWXhB8MV11tvSOceeQ2dxq4E_pLfc6F8GGF1JCYLHGQ_D2GfsFY7vgDy5-Bj0ewBsGyOZw_OAY63outvCk-PCYepYmM253GjweQ7SBRvTz9oD7lKIKmYav88n0HI1dtvYezcuKhc_APc/
Quanh ta
10:26 AM|

Marie Curie, nhà vật lý và hóa học nổi tiếng với công trình nghiên cứu về phóng xạ, là phụ nữ đầu tiên và duy nhất nhận giải thưởng Nobel cao quý ở hai lĩnh vực vật lý và hóa học.
Maria Sklodowska sinh ngày 7/11/1867 tại thủ đô Warsaw, Ba Lan, là con gái út trong một gia đình có 5 người con và có bố mẹ đều là giáo viên. Khi còn nhỏ, Marie được đánh giá là một bé gái tò mò, sáng dạ và xuất sắc ở trường học. Bi kịch xảy đến với gia đình Marie khi mẹ cô qua đời vì bệnh lao phổi. Năm ấy, Marie mới 11 tuổi.
Marie luôn giữ vị trí đứng đầu ở trường trong những năm tháng đi học. Mặc dù vậy, những thành tích học tập có được không thể giúp Marie được nhận vào học ở Đại học Warsaw, ngôi trường chỉ dành cho nam sinh. Marie tiếp tục sự nghiệp học hành ở một "trường đại học chui" có các lớp bí mật dưới lòng đất.
Marie và chị gái Bronya từng mơ ước du học để có tấm bằng chính thức nhưng họ không có khả năng chi trả học phí. Marie quyết định đi làm để hỗ trợ Bronya theo học y khoa. Trong gần 5 năm, Marie làm gia sư và giáo viên dạy trẻ để kiếm tiền trang trải chi phí. Thời gian rảnh, cô tiếp tục nghiên cứu, đọc sách về vật lý, hóa học và toán học.
Marie Curie - Từ cô bé làm thuê đến hai lần nhận giải Nobel
Chân dung Marie Curie, người phụ nữ đầu tiên nhận giải Nobel. (Ảnh: Wikicommons)

Năm 1891, Marie hiện thực hóa giấc mơ đến Paris, nơi cô theo học tại Đại học Sorbonne. Sau những ngày tháng lao vào nghiên cứu không ngừng nghỉ, cùng với chế độ ăn uống thiếu thốn chỉ có bánh mì phết bơ và trà, Marie thường xuyên gặp các vấn đề về sức khỏe.
Hai năm sau, Marie nhận bằng thạc sĩ vật lý và tiếp tục hoàn thành chương trình hóa học. Trong khoảng thời gian này, Marie được tham gia một nghiên cứu về các loại thép và đặc tính từ của chúng. Cô được người quen giới thiệu với nhà vật lý học người Pháp Pierre Curie khi đang tìm kiếm một địa điểm thích hợp để thực hiện thí nghiệm. Khoa học trở thành cây cầu nối bén duyên cho hai nhà nghiên cứu. Không lâu sau đó, Marie chấp thuận lời cầu hôn của Pierre và bắt đầu được gọi bằng tên Marie Curie. Con gái đầu lòng của Marie và Pierre chào đời vào năm 1897.

Khám phá và tôn vinh

Không chỉ cống hiến và tận tâm cho nghiên cứu khoa học, Marie hay Pierre đều hết lòng vì người còn lại. Thời gian đầu, họ làm việc theo các dự án riêng. Marie tham gia nghiên cứu cùng Henri Becquerel, một nhà vật lý học người Pháp, và bắt đầu tự tiến hành các thí nghiệm riêng về tia urani. Bà phát hiện ra rằng, các tia sẽ không thay đổi bất kể điều kiện hay hình dạng của urani, và các tia này xuất phát từ cấu trúc nguyên tử của nguyên tố. Phát hiện mang tính đột phá ấy đã mở đường cho lĩnh vực vật lý nguyên tử, trong đó, Marie trở thành người đưa ra khái niệm phóng xạ để mô tả hiện tượng này.
Những năm sau, Pierre tạm gác công việc sang một bên và cùng hỗ trợ Marie trong các nghiên cứu về phóng xạ. Phân tích khoáng vật pitchblende, họ phát hiện một nguyên tố phóng xạ mới và đặt tên là polonium, theo tên quê hương Ba Lan của Marie, vào năm 1898. Nguyên tố còn lại được gọi là radium. Năm 1902, Marie cùng chồng công bố kết quả lọc radium tinh khiết, đánh dấu sự tồn tại của nguyên tố quý này.
Marie Curie đi vào lịch sử khoa học thế giới vào năm 1903 khi trở thành người phụ nữ đầu tiên nhận giải Nobel lĩnh vực vật lý. Cùng với chồng và nhà nghiên cứu Henri Becquerel, bà được vinh danh vì những cống hiến cho nghiên cứu phóng xạ. Với số tiền thưởng từ thưởng Nobel, Marie cùng Pierre tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu khoa học. Họ có cô con gái thứ hai một năm sau đó.
Năm 1906, Pierre qua đời vì bị một chiếc xe ngựa kéo đè lên khi đang đi trên phố. Vượt qua nỗi đau mất mát, Marie bắt đầu sự nghiệp giảng dạy tại trường Sorbonne và trở thành nữ giáo sư đầu tiên của trường đại học này.
8 năm sau, vinh dự tiếp tục đến với nhà nghiên cứu khi bà nhận được giải Nobel thứ hai, trở thành nhà khoa học đầu tiên nhận hai giải thưởng cao quý. Giải Nobel hóa học ghi nhận những khám phá của Marie trong việc tìm ra hai nguyên tố hóa học radium và polonium. Trong bài diễn văn, Marie xúc động chia sẻ vinh dự này với người chồng quá cố.
Trong khoảng thời gian này, bà cùng một số nhà khoa học nổi tiếng khác, trong đó có Albert Einstein và Max Planck, tham dự Hội nghị Solvay về Vật lý đầu tiên. Họ cùng nhau thảo luận về những khám phá mang tính đột phá trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu.
Marie Curie - Từ cô bé làm thuê đến hai lần nhận giải Nobel
Marie Curie cùng chồng Pierre Curie trong phòng nghiên cứu. (Ảnh: Wikipedia)

Những năm tháng cuối đời

Tên tuổi của Marie bị ảnh hưởng kể từ sau năm 1911 khi những tin đồn về mối quan hệ của bà cùng với học trò cũ của chồng là Paul Langevin được công chúng chú ý. Thậm chí, bà còn được cho là nguyên nhân khiến gia đình Paul Langevin tan vỡ.
Năm 1914, Thế chiến II bùng nổ. Marie dành thời gian, tâm sức và nghiên cứu để hỗ trợ lĩnh vực y tế, đồng thời vận động sử dụng dụng máy chụp X-quang di dộng để điều trị cho người bị thương. Trong hai năm 1921 và 1929, bà đến Mỹ để gây quỹ cho nghiên cứu radium và thành lập một viện nghiên cứu radium ở Warsaw.
Những năm tháng miệt mài làm việc và nghiên cứu với các chất phóng xạ có ảnh hưởng đến sức khỏe của Marie. Năm 1934, bà đến Viện điều dưỡng Sancellemoz ở Passy, Pháp để nghỉ ngơi và hồi phục sức khỏe. Bà qua đời ngày 4/7/1934, với chẩn đoán do thiếu máu không tái tạo, có thể ảnh hưởng từ việc tiếp xúc trong thời gian dài với bức xạ.
Năm 1995, tro xương của bà cùng chồng được đưa vào điện Panthéon ở Paris, nơi an nghỉ của của các vĩ nhân lịch sử và những người đã làm rạng danh cho nước Pháp. Marie trở thành người phụ nữ đầu tiên và duy nhất được an nghỉ tại đây.
Ngoài những cống hiến cho nghiên cứu khoa học, Marie còn là người thổi bùng đam mê khoa học các thế hệ sau. Tiếp nối sự nghiệp của cha mẹ, con gái của bà là Irène Joliot-Curie từng nhận giải Nobel về hóa học vào năm 1935.
Ngày nay, nhiều viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục, trung tâm y tế trên thế giới được đặt theo tên của Marie Curie.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj5yOnR9oCnjQUCKIFuvm_YluU9ez7aQwClrR8VNGh_VjYrch6sCRIuIfc3xh5XFebFjyXMswP6XV9yUSM4SW36QfyqJxPiu9WSEcrdX5qMEVgH95vAuQjjmMQI2hYqzrmHKDOi2NAZDzo/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiVWXhB8MV11tvSOceeQ2dxq4E_pLfc6F8GGF1JCYLHGQ_D2GfsFY7vgDy5-Bj0ewBsGyOZw_OAY63outvCk-PCYepYmM253GjweQ7SBRvTz9oD7lKIKmYav88n0HI1dtvYezcuKhc_APc/

Ernest Rutherford là một nhà vật lý hoạt động trong lĩnh vực phóng xạ và cấu tạo nguyên tử. Ông được coi là “cha đẻ” của vật lý hạt nhân sau khi đưa ra mô hình “Hành tinh nguyên tử” để giải thích “thí nghiệm trên lá vàng”. Nhờ phát hiện của mình mà ông đã được nhận giải Nobel hóa học năm 1908.
Ernest Rutherford sinh vào ngày 30/8/1871, tại thành phố Nelson, New Zealand trong một gia đình khá giả. Cha ông vốn là một người thợ đóng xe và mẹ là giáo viên tiếng Anh.
Khi lên 16 tuổi, Rutherford vào học tại trường trung học Nelson, một trong những ngôi trường nổi tiếng của New Zealand thời bấy giờ. Nhờ thành tích xuất sắc trong học tập nên khi tốt nghiệp vào năm 1889, Rutherford được thưởng một suất học bổng, theo học tại Đại học Wellington. Năm 1893, ông tốt nghiệp xuất sắc với chuyên ngành toán học và vật lý khoa học.
Sau một năm tham gia nghiên cứu tại Đại học Wellington, Rutherford được cử đi làm nghiên cứu sinh tại phòng thí nghiệm Cavendish, thuộc Đại học Cambridge, Anh. Dưới sự hướng dẫn của nhà khoa học Thomson, chỉ sau một thời gian ngắn, Rutherford đã có những bước tiến vượt bậc. Bên cạnh việc tập trung nghiên cứu về nhân nguyên tử, tức là các hạt ion dương, vận tốc và “tuổi thọ” của chúng, Rutherford còn sáng chế ra một máy dò sóng điện từ sau khi quan sát tính năng của một cuộn dây từ.
Đến năm 1896, sau khi nhà khoa học Henri Becquerel phát minh ra hiện tượng phóng xạ, bị thuyết phục bởi hiện tượng này, cũng giống như vợ chồng nhà khoa học
Marie Curie, Rutherford đã tiếp tục lao vào nghiên cứu. Sau một thời gian quan sát, ông khám phá ra rằng các chất phóng xạ phát ra những bức xạ có tính chất khác nhau: Chùm tia alpha được hợp bởi những hạt dương nặng và chùm tia beta được hợp bởi những điện tử. Ông cũng khám phá ra thêm một chùm tia thứ ba nữa nhưng chưa kết luận được đó là gì. Sau này, nhà khoa học Paul Villard đã gọi nó là chùm tia gammar. Có thể nói, đây là những phát hiện lớn, đặt dấu ấn vô cùng quan trọng cho nền khoa học hạt nhân sau này.
Ernest Rutherford -
Ernest Rutherford (1871-1937)

Vào năm 1898, sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về cấu tạo vật chất “Sự ion hóa và tính chất phóng xạ”, Rutherford rời phòng thí nghiệm Cavendish tới làm việc tại trường đại học Macgill, Canada, trên cương vị giáo sư. Tại đây, ông tiếp tục những công trình nghiên cứu của mình và khám phá ra mối liên hệ giữa dây chuyền phóng xạ của chất Uranium và chất Thorium. Ông cũng chứng minh rằng hạt alpha chính là nhân nguyên tử Helium.
Năm 1907, Rutherford trở về Anh để giảng dạy và nghiên cứu ở Viện đại học Manchester. Được sự giúp đỡ của các nhà vật lý trẻ tuổi Geiger và Niels Bohr, Rutherford đã thực hiện thí nghiệm bắn phá nguyên tử trong một miếng nhôm mỏng bằng hạt alpha. Ông nhận thấy cứ 10.000 hạt alpha bắn vào mới có một hạt bị lệch bật trở lại vì gặp điện dương trong đó. Điều đó đã chứng tỏ rằng cấu tạo bên trong mỗi nguyên tử, hầu hết là trống rỗng. Ông đã mô tả lại kết quả này một cách đầy hình tượng: Điều này giống như khi bắn súng vào một tờ giấy và thấy vài viên đạn bay ngược trở lại.
Sau khi nhờ nhà vật lý lý thuyết Fowler tính toán, Rutherford đã tìm ra công thức nổi tiếng về tán xạ hạt alpha (còn gọi là phóng xạ thiên nhiên) và kết luận rằng: Điện dương tụ trong nhân mà đường kính chỉ bằng một phần vạn đường kính nguyên tử. Từ kết quả này, Rutherford đã đề xuất mẫu hành tinh nguyên tử để mô tả các nguyên tử và đến năm 1908, ông đã được trao tặng giải thưởng Nobel hóa học cho những phát hiện quan trọng này.
Một trong hai công trình quan trọng nhất của Rutherford đã được ông chứng minh trong năm 1911, đó là mô hình nguyên tử, với nhân ở giữa và các hạt điện tử quay xung quanh. Ông đã giải thích kết quả thí nghiệm với giả thiết rằng nguyên tử chứa một hạt nhân mang điện tích dương nhỏ bé trong lõi, với những điện tử mang điện tích âm khác chuyển động xung quanh nó trên những quỹ đạo khác nhau, ở giữa là những khoảng không.
Khi đó, hạt alpha nằm bên ngoài nguyên tử không chịu lực Coulomb, nhưng khi đến gần hạt nhân mang điện dương trong lõi thì bị đẩy do hạt nhân và hạt alpha đều tích điện dương. Do lực Coulomb tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách nên hạt nhân cần có kích thước nhỏ để đạt lực đẩy lớn tại các khoảng cách nhỏ giữa hạt alpha và hạt nhân. Nói một cách hình tượng, mô hình hạt nhân lõi nhỏ là lá chắn cứng đối với các hạt alpha.
Nhờ những phát hiện quan trọng và những đóng góp không nhỏ cho nền khoa học Anh nên đến năm 1914, Rutherford được phong tước Hiệp sĩ. Năm 1919, ông được cử làm Giám đốc phòng thí nghiệm Cavendish, thay nhà khoa học Thomson. Trong quãng thời gian làm việc ở đây, Rutherford đã phát hiện ra hạt proton trong nhân nguyên tử. Đây chính là công trình quan trọng thứ hai của ông.
Những đóng góp của Rutherford đã được giới khoa học đánh giá cao. Ngoài giải thưởng Nobel hóa học, ông còn được trao rất nhiều danh hiệu khác như: Huân chương Rumford (năm 1905) và Huân chương Copley (năm 1922) của Hiệp hội Hoàng gia, giải Bressa (1910) của Viện hàn lâm khoa học Turin, Huy chương Albert (1928) của Hiệp hội Hoàng gia Nghệ thuật, Huy chương Faraday (1930) của Viện kỹ sư điện. Ông còn được bầu làm viện sĩ danh dự của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (nay là Viện hàn lâm khoa học Liên bang Nga).
Sau 18 năm say mê nghiên cứu và làm việc tại phòng thí nghiệm Cavendish, ngày 19/10/1937, Rutherford đã vĩnh viễn ra đi, hưởng thọ 66 tuổi. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu quan trọng và những phát minh lớn, có ý nghĩa cho cả hôm nay và mai sau.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhqt7zt7-iZCtjbUejEId-BhDj1G_Ny5bXGYSmzTpdjJGloaiUT2j_oWfRROTs6eLj9D_d0aQq_8Xrtrs1-_4BLmeY-4A9YQAmp7P0mTwtaP4FNAGJroEkOY05djZpWdUdcaFmXaWm2x9o/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjE2dAvRUXVJ4DCXa8R39XnhLFw7s1PvcM3MdcwXF_7_b9M9xMbUKqGYaTlt3MYq5pPEJdLlZUQR0XN2kkmsA_k4IoJG4ba0QQrWdlQOg4Cg2aeQFZ4MEpIWZqDKsK0Hg0CdM2PSJj8Ui4/
Quanh ta
10:25 AM|

Ernest Rutherford là một nhà vật lý hoạt động trong lĩnh vực phóng xạ và cấu tạo nguyên tử. Ông được coi là “cha đẻ” của vật lý hạt nhân sau khi đưa ra mô hình “Hành tinh nguyên tử” để giải thích “thí nghiệm trên lá vàng”. Nhờ phát hiện của mình mà ông đã được nhận giải Nobel hóa học năm 1908.
Ernest Rutherford sinh vào ngày 30/8/1871, tại thành phố Nelson, New Zealand trong một gia đình khá giả. Cha ông vốn là một người thợ đóng xe và mẹ là giáo viên tiếng Anh.
Khi lên 16 tuổi, Rutherford vào học tại trường trung học Nelson, một trong những ngôi trường nổi tiếng của New Zealand thời bấy giờ. Nhờ thành tích xuất sắc trong học tập nên khi tốt nghiệp vào năm 1889, Rutherford được thưởng một suất học bổng, theo học tại Đại học Wellington. Năm 1893, ông tốt nghiệp xuất sắc với chuyên ngành toán học và vật lý khoa học.
Sau một năm tham gia nghiên cứu tại Đại học Wellington, Rutherford được cử đi làm nghiên cứu sinh tại phòng thí nghiệm Cavendish, thuộc Đại học Cambridge, Anh. Dưới sự hướng dẫn của nhà khoa học Thomson, chỉ sau một thời gian ngắn, Rutherford đã có những bước tiến vượt bậc. Bên cạnh việc tập trung nghiên cứu về nhân nguyên tử, tức là các hạt ion dương, vận tốc và “tuổi thọ” của chúng, Rutherford còn sáng chế ra một máy dò sóng điện từ sau khi quan sát tính năng của một cuộn dây từ.
Đến năm 1896, sau khi nhà khoa học Henri Becquerel phát minh ra hiện tượng phóng xạ, bị thuyết phục bởi hiện tượng này, cũng giống như vợ chồng nhà khoa học Marie Curie, Rutherford đã tiếp tục lao vào nghiên cứu. Sau một thời gian quan sát, ông khám phá ra rằng các chất phóng xạ phát ra những bức xạ có tính chất khác nhau: Chùm tia alpha được hợp bởi những hạt dương nặng và chùm tia beta được hợp bởi những điện tử. Ông cũng khám phá ra thêm một chùm tia thứ ba nữa nhưng chưa kết luận được đó là gì. Sau này, nhà khoa học Paul Villard đã gọi nó là chùm tia gammar. Có thể nói, đây là những phát hiện lớn, đặt dấu ấn vô cùng quan trọng cho nền khoa học hạt nhân sau này.
Ernest Rutherford -
Ernest Rutherford (1871-1937)

Vào năm 1898, sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về cấu tạo vật chất “Sự ion hóa và tính chất phóng xạ”, Rutherford rời phòng thí nghiệm Cavendish tới làm việc tại trường đại học Macgill, Canada, trên cương vị giáo sư. Tại đây, ông tiếp tục những công trình nghiên cứu của mình và khám phá ra mối liên hệ giữa dây chuyền phóng xạ của chất Uranium và chất Thorium. Ông cũng chứng minh rằng hạt alpha chính là nhân nguyên tử Helium.
Năm 1907, Rutherford trở về Anh để giảng dạy và nghiên cứu ở Viện đại học Manchester. Được sự giúp đỡ của các nhà vật lý trẻ tuổi Geiger và Niels Bohr, Rutherford đã thực hiện thí nghiệm bắn phá nguyên tử trong một miếng nhôm mỏng bằng hạt alpha. Ông nhận thấy cứ 10.000 hạt alpha bắn vào mới có một hạt bị lệch bật trở lại vì gặp điện dương trong đó. Điều đó đã chứng tỏ rằng cấu tạo bên trong mỗi nguyên tử, hầu hết là trống rỗng. Ông đã mô tả lại kết quả này một cách đầy hình tượng: Điều này giống như khi bắn súng vào một tờ giấy và thấy vài viên đạn bay ngược trở lại.
Sau khi nhờ nhà vật lý lý thuyết Fowler tính toán, Rutherford đã tìm ra công thức nổi tiếng về tán xạ hạt alpha (còn gọi là phóng xạ thiên nhiên) và kết luận rằng: Điện dương tụ trong nhân mà đường kính chỉ bằng một phần vạn đường kính nguyên tử. Từ kết quả này, Rutherford đã đề xuất mẫu hành tinh nguyên tử để mô tả các nguyên tử và đến năm 1908, ông đã được trao tặng giải thưởng Nobel hóa học cho những phát hiện quan trọng này.
Một trong hai công trình quan trọng nhất của Rutherford đã được ông chứng minh trong năm 1911, đó là mô hình nguyên tử, với nhân ở giữa và các hạt điện tử quay xung quanh. Ông đã giải thích kết quả thí nghiệm với giả thiết rằng nguyên tử chứa một hạt nhân mang điện tích dương nhỏ bé trong lõi, với những điện tử mang điện tích âm khác chuyển động xung quanh nó trên những quỹ đạo khác nhau, ở giữa là những khoảng không.
Khi đó, hạt alpha nằm bên ngoài nguyên tử không chịu lực Coulomb, nhưng khi đến gần hạt nhân mang điện dương trong lõi thì bị đẩy do hạt nhân và hạt alpha đều tích điện dương. Do lực Coulomb tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách nên hạt nhân cần có kích thước nhỏ để đạt lực đẩy lớn tại các khoảng cách nhỏ giữa hạt alpha và hạt nhân. Nói một cách hình tượng, mô hình hạt nhân lõi nhỏ là lá chắn cứng đối với các hạt alpha.
Nhờ những phát hiện quan trọng và những đóng góp không nhỏ cho nền khoa học Anh nên đến năm 1914, Rutherford được phong tước Hiệp sĩ. Năm 1919, ông được cử làm Giám đốc phòng thí nghiệm Cavendish, thay nhà khoa học Thomson. Trong quãng thời gian làm việc ở đây, Rutherford đã phát hiện ra hạt proton trong nhân nguyên tử. Đây chính là công trình quan trọng thứ hai của ông.
Những đóng góp của Rutherford đã được giới khoa học đánh giá cao. Ngoài giải thưởng Nobel hóa học, ông còn được trao rất nhiều danh hiệu khác như: Huân chương Rumford (năm 1905) và Huân chương Copley (năm 1922) của Hiệp hội Hoàng gia, giải Bressa (1910) của Viện hàn lâm khoa học Turin, Huy chương Albert (1928) của Hiệp hội Hoàng gia Nghệ thuật, Huy chương Faraday (1930) của Viện kỹ sư điện. Ông còn được bầu làm viện sĩ danh dự của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (nay là Viện hàn lâm khoa học Liên bang Nga).
Sau 18 năm say mê nghiên cứu và làm việc tại phòng thí nghiệm Cavendish, ngày 19/10/1937, Rutherford đã vĩnh viễn ra đi, hưởng thọ 66 tuổi. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu quan trọng và những phát minh lớn, có ý nghĩa cho cả hôm nay và mai sau.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhqt7zt7-iZCtjbUejEId-BhDj1G_Ny5bXGYSmzTpdjJGloaiUT2j_oWfRROTs6eLj9D_d0aQq_8Xrtrs1-_4BLmeY-4A9YQAmp7P0mTwtaP4FNAGJroEkOY05djZpWdUdcaFmXaWm2x9o/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjE2dAvRUXVJ4DCXa8R39XnhLFw7s1PvcM3MdcwXF_7_b9M9xMbUKqGYaTlt3MYq5pPEJdLlZUQR0XN2kkmsA_k4IoJG4ba0QQrWdlQOg4Cg2aeQFZ4MEpIWZqDKsK0Hg0CdM2PSJj8Ui4/

Thế giới ngày nay có đến hơn 783 triệu người vẫn chưa có điều kiện sử dụng nước sạch và điện. Một sáng chế mới của cô bé 17 tuổi người Úc có tên Việt Nam hứa hẹn giải quyết cùng lúc cả hai vấn đề trên bằng thiết bị lọc nước thải và sử dụng các chất thải trong nước để tạo ra điện năng.
Người sáng chế ra thiết bị "kì diệu" này là một cô gái có cái tên Việt Nam, Cynthia Sin Nga Lam. Hiện tại, Lam mới 17 tuổi và đang sinh sống tại Melbourne, Australia. Trong Hội chợ Khoa học toàn cầu được Google tổ chức năm nay, em đã vinh dự được đứng trong hàng ngũ 15 nhà phát minh trẻ được lọt vào vòng chung kết cùng thiết bị có khả năng tạo ra điện và nước sạch cùng lúc của mình.
 Cô bé Việt kiều 17 tuổi lọt vào chung kết cuộc thi khoa học của Google
Nguyên mẫu ban đầu của thiết bị có tên gọi là H2Pro. Đây là một cỗ máy có khả năng di động và chỉ sử dụng nguồn năng lượng là ánh sáng mặt trời. Cơ chế hoạt động chủ yếu của máy dựa trên nguyên tắc: Nước bẩn sẽ được đưa vào qua một đầu của thiết bị, sau đó lưới bằng titan sẽ sử dụng ánh sáng mặt trời để khử trùng nước và đẩy chúng qua một bộ lọc. Phản ứng quang xúc tác sẽ tách phân tử nước thành oxy và hydro. Lượng hydro tạo ra sẽ được dẫn qua các thiết bị pin năng lượng (fuel-cell) để sinh ra năng lượng sạch (điện). Ngoài ra, các chất bẩn trong nước như chất tẩy rửa, xà phòng và các chất ô nhiểm khác cũng sẽ là một nguồn cung cấp chất xúc tác phong phú để tạo ra hydro cho quá trình này.
Cô bé Việt kiều 17 tuổi lọt vào chung kết cuộc thi khoa học của Google
Nguyên mẫu thiết bị có tên gọi, H2Pro

Lam cho biết: "Cũng đã tồn tại một số công nghệ để khử trùng nước tương tự trên thế giới, song những giải pháp đó hầu như đều cần có một nguồn điện để vận hành. Bởi vậy, chúng không thể nào sử dụng được tại các địa điểm xa xôi. Trong khi, với thiết bị mới này, điều bạn cần chỉ là ánh sáng mặt trời và Titan mà vẫn có thể tạo ra nước sạch, thậm chí là cả năng lượng sạch cũng có thể đồng thời được sản xuất".
Bên cạnh đó, chi phí để tạo thành sản phẩm này cũng khá rẻ, quy trình thiết kế đơn giản và có thể bảo dưỡng dễ dàng theo thời gian. Mẫu thiết kế ban đầu chỉ là một thiết bị nhỏ gọn, nhưng theo Lam cho biết, công nghệ này có thể áp dụng được cả trên quy mô lớn hơn trong tương lai. Hãy thử tưởng tượng, một hệ thống các ống nước Titan được đặt trên mái nhà có thể được sử dụng gửi nước thải đến hệ thống máy lọc để sản xuất cùng lúc năng lượng sạch và cung cấp nước tinh khiết.
"Tôi cho rằng nhiều người vẫn chưa thực sự thấy được sự nghiêm trọng của các vấn đề ô nhiễm nước và thiếu hụt năng lượng trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển", Lam chia sẻ thêm. "Tôi sẽ cố gắng hoàn thiện bản thiết kế này, để thiết bị có thể thực sự cung cấp nước và năng lượng sạch một cách bền vững, mà không cần bất kỳ sự hỗ trợ nào từ bên ngoài. Đó sẽ là một điều vô cùng tuyệt vời trong tương lai!".

Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiOjsFFXVRtZQN0RtNrtC7cP2bDyN1fk11f1ZUHSA9GOaf0WZJpPblQ8ed1ts74Wzka27bunRJqKE5RjX1Z_-J33iuKanqtlyt6aI7TtS8rKzkkV2v7mM64T7P_ugtv3OghkbP1fY0gzyI/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhyrDggLl8WkSrG9Pr4N8BnFWSP-_RKSWhFzjiFvuokENMWncK9mJruIddYq7jIUhRlDPXI4sT4bbUrhmAXWwSgr6efCSgqpiKtiArfcFrgM45PmAVO9duGc4idDkRjgnESDwqz3Lrvwlg/
Tin hot
10:25 AM|

Thế giới ngày nay có đến hơn 783 triệu người vẫn chưa có điều kiện sử dụng nước sạch và điện. Một sáng chế mới của cô bé 17 tuổi người Úc có tên Việt Nam hứa hẹn giải quyết cùng lúc cả hai vấn đề trên bằng thiết bị lọc nước thải và sử dụng các chất thải trong nước để tạo ra điện năng.
Người sáng chế ra thiết bị "kì diệu" này là một cô gái có cái tên Việt Nam, Cynthia Sin Nga Lam. Hiện tại, Lam mới 17 tuổi và đang sinh sống tại Melbourne, Australia. Trong Hội chợ Khoa học toàn cầu được Google tổ chức năm nay, em đã vinh dự được đứng trong hàng ngũ 15 nhà phát minh trẻ được lọt vào vòng chung kết cùng thiết bị có khả năng tạo ra điện và nước sạch cùng lúc của mình.
 Cô bé Việt kiều 17 tuổi lọt vào chung kết cuộc thi khoa học của Google
Nguyên mẫu ban đầu của thiết bị có tên gọi là H2Pro. Đây là một cỗ máy có khả năng di động và chỉ sử dụng nguồn năng lượng là ánh sáng mặt trời. Cơ chế hoạt động chủ yếu của máy dựa trên nguyên tắc: Nước bẩn sẽ được đưa vào qua một đầu của thiết bị, sau đó lưới bằng titan sẽ sử dụng ánh sáng mặt trời để khử trùng nước và đẩy chúng qua một bộ lọc. Phản ứng quang xúc tác sẽ tách phân tử nước thành oxy và hydro. Lượng hydro tạo ra sẽ được dẫn qua các thiết bị pin năng lượng (fuel-cell) để sinh ra năng lượng sạch (điện). Ngoài ra, các chất bẩn trong nước như chất tẩy rửa, xà phòng và các chất ô nhiểm khác cũng sẽ là một nguồn cung cấp chất xúc tác phong phú để tạo ra hydro cho quá trình này.
Cô bé Việt kiều 17 tuổi lọt vào chung kết cuộc thi khoa học của Google
Nguyên mẫu thiết bị có tên gọi, H2Pro

Lam cho biết: "Cũng đã tồn tại một số công nghệ để khử trùng nước tương tự trên thế giới, song những giải pháp đó hầu như đều cần có một nguồn điện để vận hành. Bởi vậy, chúng không thể nào sử dụng được tại các địa điểm xa xôi. Trong khi, với thiết bị mới này, điều bạn cần chỉ là ánh sáng mặt trời và Titan mà vẫn có thể tạo ra nước sạch, thậm chí là cả năng lượng sạch cũng có thể đồng thời được sản xuất".
Bên cạnh đó, chi phí để tạo thành sản phẩm này cũng khá rẻ, quy trình thiết kế đơn giản và có thể bảo dưỡng dễ dàng theo thời gian. Mẫu thiết kế ban đầu chỉ là một thiết bị nhỏ gọn, nhưng theo Lam cho biết, công nghệ này có thể áp dụng được cả trên quy mô lớn hơn trong tương lai. Hãy thử tưởng tượng, một hệ thống các ống nước Titan được đặt trên mái nhà có thể được sử dụng gửi nước thải đến hệ thống máy lọc để sản xuất cùng lúc năng lượng sạch và cung cấp nước tinh khiết.
"Tôi cho rằng nhiều người vẫn chưa thực sự thấy được sự nghiêm trọng của các vấn đề ô nhiễm nước và thiếu hụt năng lượng trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển", Lam chia sẻ thêm. "Tôi sẽ cố gắng hoàn thiện bản thiết kế này, để thiết bị có thể thực sự cung cấp nước và năng lượng sạch một cách bền vững, mà không cần bất kỳ sự hỗ trợ nào từ bên ngoài. Đó sẽ là một điều vô cùng tuyệt vời trong tương lai!".

Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiOjsFFXVRtZQN0RtNrtC7cP2bDyN1fk11f1ZUHSA9GOaf0WZJpPblQ8ed1ts74Wzka27bunRJqKE5RjX1Z_-J33iuKanqtlyt6aI7TtS8rKzkkV2v7mM64T7P_ugtv3OghkbP1fY0gzyI/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhyrDggLl8WkSrG9Pr4N8BnFWSP-_RKSWhFzjiFvuokENMWncK9mJruIddYq7jIUhRlDPXI4sT4bbUrhmAXWwSgr6efCSgqpiKtiArfcFrgM45PmAVO9duGc4idDkRjgnESDwqz3Lrvwlg/

Móng tay mọc nhanh hơn móng chân vì thường chịu va đập và nhận được nhiều chất dinh dưỡng hơn do nằm ở vị trí gần tim.
Móng tay trên thực tế phát triển nhanh hơn so với móng chân từ hai đến ba lần tùy theo độ tuổi, giới tính, chế độ ăn uống, đặc điểm di truyền từng người và các mùa trong năm. Trong khi móng tay mất khoảng 6 tháng để thay thế chính nó, tính từ gốc với tốc độ 3mm mỗi tháng, thì móng chân mọc lại trong 12-18 tháng chỉ 1mm mỗi tháng.
Nguyên nhân móng tay mọc nhanh hơn móng chân
Móng tay có thể phát triển nhanh hơn so với móng chân tùy theo đặc điểm giới tính, chế độ ăn uống hay di truyền. (Ảnh minh họa: Flickr)

Theo USCcience, có hai lý do có thể giải thích cho câu hỏi tại sao móng tay phát triển nhanh hơn móng chân.
Giả thiết thứ nhất cho rằng vì bàn tay ở gần tim hơn so với bàn chân nên có lượng máu lưu thông tốt hơn, nhận được nhiều oxy và dinh dưỡng hơn. Các chất dinh dưỡng được vận chuyển đến móng tay thông qua mao mạch nằm ngay bên dưới móng.
Trong khi đó theo giả thiết thứ hai, sự khác biệt này xuất phát từ các "chấn thương" khi móng tay gần như liên tục bị tác động bởi công việc gõ, đánh máy, va đập và nhiều hành động khác. Chấn thương nhỏ có thể kích thích tăng trưởng móng tay, do đó những người thuận tay phải thường có móng tay phải phát triển nhanh hơn so với tay trái và ngược lại.
Thành phần chính của móng tay là keratin, vốn cũng được tìm thấy trong da, tóc và sừng. Móng không có tế bào sống và mọc ra từ một nhóm tế bào đặc biệt gọi là mầm móng, có nhiều mạch máu nằm dưới quầng móng. Sự phát triển của móng tay phụ thuộc phần lớn vào chiều dài ngón tay (ngón tay dài hơn có mức tăng trưởng móng nhanh hơn), dinh dưỡng (ăn kiêng và khẩu phần protein thấp sẽ khiến móng tay mọc chậm), tuổi tác (người dưới 30 tuổi có mức độ mọc móng tay nhanh hơn), và mùa (móng tay phát triển nhanh nhất trong mùa hè).
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj19S9IZGKYHKbpAXcbCsDPxO6-19jmiZ1Hcgi67_SzR4c55lLjfh7DNmfml48beajjKC5SK66flRQ3o4eb92ycm0AFN9kkS7D08A96rEHUTZl1gdBtAxPWc4FUgtDAVXwk8HvP6WldBlCG/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhHIgzd2Oz8Os1Ov3fSFD45XxyVNv-XT9oFoTI5rzxTl4vwn7AD54_l3Xj6UMXePkDhHkcOBKkvfRymp59CFW5wZhWjY1LeIexY4w8P0_r_ZIpj8hVJGGx5jNDyYrpgBTK6YTdHf_ffkEcX/
Quanh ta
11:08 AM|

Móng tay mọc nhanh hơn móng chân vì thường chịu va đập và nhận được nhiều chất dinh dưỡng hơn do nằm ở vị trí gần tim.
Móng tay trên thực tế phát triển nhanh hơn so với móng chân từ hai đến ba lần tùy theo độ tuổi, giới tính, chế độ ăn uống, đặc điểm di truyền từng người và các mùa trong năm. Trong khi móng tay mất khoảng 6 tháng để thay thế chính nó, tính từ gốc với tốc độ 3mm mỗi tháng, thì móng chân mọc lại trong 12-18 tháng chỉ 1mm mỗi tháng.
Nguyên nhân móng tay mọc nhanh hơn móng chân
Móng tay có thể phát triển nhanh hơn so với móng chân tùy theo đặc điểm giới tính, chế độ ăn uống hay di truyền. (Ảnh minh họa: Flickr)

Theo USCcience, có hai lý do có thể giải thích cho câu hỏi tại sao móng tay phát triển nhanh hơn móng chân.
Giả thiết thứ nhất cho rằng vì bàn tay ở gần tim hơn so với bàn chân nên có lượng máu lưu thông tốt hơn, nhận được nhiều oxy và dinh dưỡng hơn. Các chất dinh dưỡng được vận chuyển đến móng tay thông qua mao mạch nằm ngay bên dưới móng.
Trong khi đó theo giả thiết thứ hai, sự khác biệt này xuất phát từ các "chấn thương" khi móng tay gần như liên tục bị tác động bởi công việc gõ, đánh máy, va đập và nhiều hành động khác. Chấn thương nhỏ có thể kích thích tăng trưởng móng tay, do đó những người thuận tay phải thường có móng tay phải phát triển nhanh hơn so với tay trái và ngược lại.
Thành phần chính của móng tay là keratin, vốn cũng được tìm thấy trong da, tóc và sừng. Móng không có tế bào sống và mọc ra từ một nhóm tế bào đặc biệt gọi là mầm móng, có nhiều mạch máu nằm dưới quầng móng. Sự phát triển của móng tay phụ thuộc phần lớn vào chiều dài ngón tay (ngón tay dài hơn có mức tăng trưởng móng nhanh hơn), dinh dưỡng (ăn kiêng và khẩu phần protein thấp sẽ khiến móng tay mọc chậm), tuổi tác (người dưới 30 tuổi có mức độ mọc móng tay nhanh hơn), và mùa (móng tay phát triển nhanh nhất trong mùa hè).
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj19S9IZGKYHKbpAXcbCsDPxO6-19jmiZ1Hcgi67_SzR4c55lLjfh7DNmfml48beajjKC5SK66flRQ3o4eb92ycm0AFN9kkS7D08A96rEHUTZl1gdBtAxPWc4FUgtDAVXwk8HvP6WldBlCG/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhHIgzd2Oz8Os1Ov3fSFD45XxyVNv-XT9oFoTI5rzxTl4vwn7AD54_l3Xj6UMXePkDhHkcOBKkvfRymp59CFW5wZhWjY1LeIexY4w8P0_r_ZIpj8hVJGGx5jNDyYrpgBTK6YTdHf_ffkEcX/

Kim tự tháp vốn là niềm tự hào của người Ai Cập về một nền văn minh rực rỡ. Nhưng cho đến nay, nhân loại vẫn không ngừng tranh luận xoay quanh câu hỏi tại sao người Ai Cập có thể di chuyển nhiều khối đá, mỗi khối đá nặng tới 2,5 tấn để xây nên công trình vĩ đại này.
Dưới đây là 3 giả thuyết khả thi nhất về cách xây dựng kim tự tháp của người Ai Cập.

Giả thuyết 1: Người Ai Cập “lăn” đá xây kim tự tháp

Quan điểm này được bắt nguồn từ một ý tưởng đã có từ thời xa xưa cho rằng, người Ai Cập cổ đại đã sử dụng các thanh gỗ buộc quanh khối đá rồi lăn tới địa điểm đã định sẵn.
Tuy nhiên ý tưởng này có một số vấn đề: dưới sức nặng của khối đá, các thanh gỗ này sẽ tạo ra một áp lực vô cùng lớn lên mặt đường và khiến cho đường đi có thể bị phá hủy nghiêm trọng.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
Các nghiên cứu hiện đại chỉ ra, người Ai Cập cổ đại phải di chuyển 40 khối đá mỗi ngày mới kịp tiến độ xây dựng. Nếu vậy thì cho dù con đường có được thiết kế tinh vi đến đâu cũng không thể chịu nổi mức độ tàn phá do sức nặng của khối đá gây ra, đồng thời yêu cầu các quy trình bảo dưỡng đáng kể.
Nhà vật lý Joseph West và các cộng sự thuộc trường ĐH Indiana đã đưa ra một cách tiếp cận hoàn toàn khác, giúp cho phương pháp “lăn” đá này giảm được đáng kể mức thiệt hại gây ra đối với mặt đường, đồng thời có thể lăn được các khối đá dễ dàng hơn nhiều so với việc kéo lê.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
Ông và các cộng sự đã tiến hành phương pháp này bằng cách buộc các dây thừng xung quanh khối đá sao cho khối đá từ hình vuông giờ có dạng 12 cạnh, nhờ vậy có thể lăn dễ đàng.
West đã thử nghiệm với một khối lăng trụ dài 40cm, cao 20cm và nặng khoảng 30kg. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng 3 dây thừng buộc vào các mặt của khối đá, biến nó từ hình góc cạnh trở thành một khối có 12 cạnh.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
Sau đó, họ buộc thêm một sợi dây lên đỉnh khối đá và đo cường độ lực cần thiết để có thể di chuyển được khối đá. Theo đó, hệ số động lực học nếu di chuyển khối đá nhanh là 0,3 và cần 50 nhân công để có thể di chuyển khối đá nặng 2,5 tấn với tốc độ 0,5m/giây.

Giả thuyết 2: Sử dụng nước để xây dựng kim tự tháp

Nhóm các nhà vật lý thuộc Đại học Amsterdam (Hà Lan) lại cho rằng, câu trả lời cho bí ẩn này lại chính là nước. Dưới đây là hình ảnh được khắc trên nền mộ của vua Djehutihotep, tái hiện lại cảnh tượng một đoàn nhân công đang cùng nhau kéo một bức tượng lớn.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
Điều khiến các nhà vật lý chú ý đó chính là hình ảnh người thợ đứng ngay dưới chân của bức tượng đang đổ nước xuống lớp cát bên dưới.
Các nhà vật lý sau đó đã tiến hành thử nghiệm thực tế bằng cách kéo một vật nặng trên cát. Họ nhận ra rằng khi ngấm nước, cát sẽ không bị đùn lên và cản trở vật nặng khi di chuyển.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
Nhờ vậy lực ma sát tác động lên vật kéo được giảm đáng kể và lực kéo giảm xuống còn một nửa. Kết quả là chỉ cần một số ít nhân công so với ban đầu để di chuyển được vật nặng cần thiết.
Dù nhiều người tỏ ra hoài nghi về giả thuyết này nhưng các nhà vật lý Amsterdam tin rằng, nước chính là đáp án hoàn toàn khả thi và càng được củng cố niềm tin bằng những bức họa cổ chạm khắc từ thời xưa.

Giả thuyết 3: Kim tự tháp được xây từ trong ra ngoài

Kỹ sư xây dựng Peter James đã bác bỏ giả thuyết tồn tại nhiều thế kỷ nay khi cho rằng, người Ai Cập cổ đại không thể kéo các khối đá nặng hàng tấn lên các bờ dốc thoai thoải và xây kim tự tháp từ ngoài vào trong.
Theo ông, thực chất họ đã xây từ trong ra ngoài. Cụ thể hơn, người Ai cập dựng phần lõi bên trong bằng những tảng đá nhỏ và nhẹ hơn, sau đó bao bọc bên ngoài bằng các tảng đá to được di chuyển nhờ giàn giáo.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
Theo James, cách thức người Ai Cập cổ đại xây kim tự tháp cũng giống như xây nhà thời hiện đại. Có khả năng là họ đã xây 4 góc kim tự tháp trước, tương tự như 4 góc nhà, sau đó tạo ra 4 lối vào ở trung tâm kim tự tháp.
Tiếp theo, phòng chứa lăng mộ sẽ được xây bằng đá granite. Từ bờ tường của phòng cất chứa lăng mộ, người Ai Cập cổ đại có thể xây các bờ dốc thoải bên ngoài bằng những khối đá nhỏ và nhẹ hơn theo các đường ngoằn ngoèo đã định sẵn, xếp chồng lên nhau theo từng lớp một.
Sau đó, họ sẽ kéo các tảng đá nặng theo những đường dốc thoải trên các ván trượt hoặc sử dụng giàn giáo gỗ để xếp đá bên ngoài kim tự tháp.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
James cho rằng, khi xây được phần còn lại của kim tự tháp, các tảng đá từ trên đỉnh trở xuống sẽ được đặt đúng chỗ và ăn khớp với cấu trúc như các miếng xếp hình Lego.
Ông rất chắc chắn về giả thuyết của mình vì nhận thấy rằng không có khối đá nào có độ dày quá 30-40cm. Bên cạnh đó, ông có thể khẳng định thêm về giả thuyết của mình nhờ rada và máy quay nhiệt.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiMadT2f5YEicJ_iw22bG_Ib-5-_mq92qUm_z4RWlMhzUCpcWjEP3Q0kh1X4B6lZRxl92Je5UwOLYGDCP9s689oZT9Dxwj7tznJQXHjt0FX6KXnBmooEf3i3t1vSGuj1gtxjEFDk90fuiWJ/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj_2Jn8t-VNRPw-VNA63O8Dkl5nBsLeWhv4Km7iLicWustPiKGMvaxMfmkzywGojrNI0y9SEZNhRRE-rSmkc2tEGcSVce5uNLiXJF3KnU0IGYDZ1I58AS5tiEyMcaUD9w_fl7jCjeS82oz3/
Quanh ta
11:08 AM|

Kim tự tháp vốn là niềm tự hào của người Ai Cập về một nền văn minh rực rỡ. Nhưng cho đến nay, nhân loại vẫn không ngừng tranh luận xoay quanh câu hỏi tại sao người Ai Cập có thể di chuyển nhiều khối đá, mỗi khối đá nặng tới 2,5 tấn để xây nên công trình vĩ đại này.
Dưới đây là 3 giả thuyết khả thi nhất về cách xây dựng kim tự tháp của người Ai Cập.

Giả thuyết 1: Người Ai Cập “lăn” đá xây kim tự tháp

Quan điểm này được bắt nguồn từ một ý tưởng đã có từ thời xa xưa cho rằng, người Ai Cập cổ đại đã sử dụng các thanh gỗ buộc quanh khối đá rồi lăn tới địa điểm đã định sẵn.
Tuy nhiên ý tưởng này có một số vấn đề: dưới sức nặng của khối đá, các thanh gỗ này sẽ tạo ra một áp lực vô cùng lớn lên mặt đường và khiến cho đường đi có thể bị phá hủy nghiêm trọng.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
Các nghiên cứu hiện đại chỉ ra, người Ai Cập cổ đại phải di chuyển 40 khối đá mỗi ngày mới kịp tiến độ xây dựng. Nếu vậy thì cho dù con đường có được thiết kế tinh vi đến đâu cũng không thể chịu nổi mức độ tàn phá do sức nặng của khối đá gây ra, đồng thời yêu cầu các quy trình bảo dưỡng đáng kể.
Nhà vật lý Joseph West và các cộng sự thuộc trường ĐH Indiana đã đưa ra một cách tiếp cận hoàn toàn khác, giúp cho phương pháp “lăn” đá này giảm được đáng kể mức thiệt hại gây ra đối với mặt đường, đồng thời có thể lăn được các khối đá dễ dàng hơn nhiều so với việc kéo lê.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
Ông và các cộng sự đã tiến hành phương pháp này bằng cách buộc các dây thừng xung quanh khối đá sao cho khối đá từ hình vuông giờ có dạng 12 cạnh, nhờ vậy có thể lăn dễ đàng.
West đã thử nghiệm với một khối lăng trụ dài 40cm, cao 20cm và nặng khoảng 30kg. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng 3 dây thừng buộc vào các mặt của khối đá, biến nó từ hình góc cạnh trở thành một khối có 12 cạnh.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
Sau đó, họ buộc thêm một sợi dây lên đỉnh khối đá và đo cường độ lực cần thiết để có thể di chuyển được khối đá. Theo đó, hệ số động lực học nếu di chuyển khối đá nhanh là 0,3 và cần 50 nhân công để có thể di chuyển khối đá nặng 2,5 tấn với tốc độ 0,5m/giây.

Giả thuyết 2: Sử dụng nước để xây dựng kim tự tháp

Nhóm các nhà vật lý thuộc Đại học Amsterdam (Hà Lan) lại cho rằng, câu trả lời cho bí ẩn này lại chính là nước. Dưới đây là hình ảnh được khắc trên nền mộ của vua Djehutihotep, tái hiện lại cảnh tượng một đoàn nhân công đang cùng nhau kéo một bức tượng lớn.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
Điều khiến các nhà vật lý chú ý đó chính là hình ảnh người thợ đứng ngay dưới chân của bức tượng đang đổ nước xuống lớp cát bên dưới.
Các nhà vật lý sau đó đã tiến hành thử nghiệm thực tế bằng cách kéo một vật nặng trên cát. Họ nhận ra rằng khi ngấm nước, cát sẽ không bị đùn lên và cản trở vật nặng khi di chuyển.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
Nhờ vậy lực ma sát tác động lên vật kéo được giảm đáng kể và lực kéo giảm xuống còn một nửa. Kết quả là chỉ cần một số ít nhân công so với ban đầu để di chuyển được vật nặng cần thiết.
Dù nhiều người tỏ ra hoài nghi về giả thuyết này nhưng các nhà vật lý Amsterdam tin rằng, nước chính là đáp án hoàn toàn khả thi và càng được củng cố niềm tin bằng những bức họa cổ chạm khắc từ thời xưa.

Giả thuyết 3: Kim tự tháp được xây từ trong ra ngoài

Kỹ sư xây dựng Peter James đã bác bỏ giả thuyết tồn tại nhiều thế kỷ nay khi cho rằng, người Ai Cập cổ đại không thể kéo các khối đá nặng hàng tấn lên các bờ dốc thoai thoải và xây kim tự tháp từ ngoài vào trong.
Theo ông, thực chất họ đã xây từ trong ra ngoài. Cụ thể hơn, người Ai cập dựng phần lõi bên trong bằng những tảng đá nhỏ và nhẹ hơn, sau đó bao bọc bên ngoài bằng các tảng đá to được di chuyển nhờ giàn giáo.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
Theo James, cách thức người Ai Cập cổ đại xây kim tự tháp cũng giống như xây nhà thời hiện đại. Có khả năng là họ đã xây 4 góc kim tự tháp trước, tương tự như 4 góc nhà, sau đó tạo ra 4 lối vào ở trung tâm kim tự tháp.
Tiếp theo, phòng chứa lăng mộ sẽ được xây bằng đá granite. Từ bờ tường của phòng cất chứa lăng mộ, người Ai Cập cổ đại có thể xây các bờ dốc thoải bên ngoài bằng những khối đá nhỏ và nhẹ hơn theo các đường ngoằn ngoèo đã định sẵn, xếp chồng lên nhau theo từng lớp một.
Sau đó, họ sẽ kéo các tảng đá nặng theo những đường dốc thoải trên các ván trượt hoặc sử dụng giàn giáo gỗ để xếp đá bên ngoài kim tự tháp.
Các giả thuyết về cách xây dựng kim tự tháp thời Ai Cập cổ đại
James cho rằng, khi xây được phần còn lại của kim tự tháp, các tảng đá từ trên đỉnh trở xuống sẽ được đặt đúng chỗ và ăn khớp với cấu trúc như các miếng xếp hình Lego.
Ông rất chắc chắn về giả thuyết của mình vì nhận thấy rằng không có khối đá nào có độ dày quá 30-40cm. Bên cạnh đó, ông có thể khẳng định thêm về giả thuyết của mình nhờ rada và máy quay nhiệt.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiMadT2f5YEicJ_iw22bG_Ib-5-_mq92qUm_z4RWlMhzUCpcWjEP3Q0kh1X4B6lZRxl92Je5UwOLYGDCP9s689oZT9Dxwj7tznJQXHjt0FX6KXnBmooEf3i3t1vSGuj1gtxjEFDk90fuiWJ/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj_2Jn8t-VNRPw-VNA63O8Dkl5nBsLeWhv4Km7iLicWustPiKGMvaxMfmkzywGojrNI0y9SEZNhRRE-rSmkc2tEGcSVce5uNLiXJF3KnU0IGYDZ1I58AS5tiEyMcaUD9w_fl7jCjeS82oz3/
Bạn đã bao giờ nhìn vào gương chiêm ngưỡng dung nhan của mình khi tức giận? Đó hẳn là một khuôn mặt với phần trán hạ xuống, nhíu lại, đôi môi cong lên, lỗ mũi nở to.
Chúng ta biết rằng, tức giận nhiều không tốt cho sức khỏe, làn da của mỗi người, nhưng một nghiên cứu mới đây của các chuyên gia thuộc ĐH UC Santa Barbara và ĐH Griffith (Australia) lại chỉ ra lợi thế của một "khuôn mặt của sự giận dữ". Theo đó, mỗi yếu tố của sự tức giận sẽ khiến bạn trở nên mạnh mẽ và vượt trội hơn.
Tham gia nghiên cứu - Aaron Sell - giảng viên trường ĐH Griffith, Australia cho rằng, các biểu hiện của sự tức giận đã sử dụng tới 7 nhóm cơ trên khuôn mặt. Và các chuyên gia đang cố gắng lý giải vì sao quá trình tiến hóa lại chọn những nhóm cơ đặc biệt trên khuôn mặt để biểu hiện trạng thái cảm xúc về sự giận dữ.
Phát hiện
Aaron Sell cho biết: "Nghiên cứu trước đây của chúng tôi cho thấy sự tức giận nhằm thúc đẩy hành vi thương lượng để đạt được hiệu quả trong thời gian xảy ra xung đột".
Giáo sư tâm lý học Cosmides Tooby cho hay: "Những người đàn ông thường dễ dàng tức giận hơn, họ hiếu chiến, cảm thấy mình có quyền được đối xử bình đẳng và hay chọn cách giải quyết những xung đột bằng phương pháp quân sự nhiều hơn".
Nhiều chuyên gia cho rằng, đối với tổ tiên chúng ta, một bộ mặt tức giận sẽ khiến đối phương cảm thấy họ là người mạnh mẽ. Để đưa ra được kết luận này, nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm với hai hình ảnh khuôn mặt trên máy tính, một bức ảnh có phần trán hạ thấp xuống và bức ảnh kia có phần lông mày nâng cao lên.
Phát hiện
Chỉ với sự khác biệt nhỏ này, hai khuôn mặt đã có sự thay đổi rõ rệt. Aaron Sell cho biết: "Hình ảnh khuôn mặt với phần trán hạ xuống khiến người đối diện cảm nhận thấy họ có vẻ thể chất khỏe mạnh hơn".
Thí nghiệm được lặp lại với một khuôn mặt khác có xương gò má cao, đôi môi cong lên và hơi đẩy ra phía trước, miệng mở lớn như kiểu thách thức, mũi nở rộng, cằm đưa về phía trước. Đúng như dự đoán, khi được yêu cầu đánh giá, hầu hết mọi người đều cảm thấy vẻ mạnh mẽ về thể chất người đó thể hiện qua khuôn mặt có phần đe dọa này.
Phát hiện
Nhà nghiên cứu Aaron Sell chia sẻ: "Nghiên cứu trước đây của chúng tôi chỉ ra, nhiều người đánh giá khả năng chiến đấu của đối phương qua cách nhìn vào khuôn mặt của người đó. Từ khuôn mặt đầy tức tối, đối phương sẽ hình dung ra hình ảnh một người đàn ông mạnh mẽ với bộ ngực căng phồng, sẵn sàng chiến đấu. Bởi vậy, có thể nói rằng một trong những chức năng của khuôn mặt lúc tức giận là để hăm dọa. Hay nói cách khác, tức giận sẽ khiến bạn trở nên mạnh mẽ và vượt trội hơn".
Nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Tiến hóa và Hành vi con người.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj8jd3bP0hRIjpNqwZUAXiOcmcU3zDoupQa6pCjw94VibXMeMEmd_OkUpAHAF2idpqYjp2gfnqWzO1AkR_-tI2Hoz0cZzA6kSv_sn9UValScmOIaKJCq3DbN66pW85hsLcIHIhKxlIj_Hr3/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgZlsDBUXMPuEImxXYXF5vYGQKAJ5kVG7g0Yc8V4VaHAhgaA-5Np4u9dojjWVOGPh9FCi5JDC709iwQME1hSEKo7-PtsWRzZh53dEsiScuuCSN1OSCBntPM-HPQt65DeoAX0qrHsgDlg22a/
Quanh ta
11:07 AM|
Bạn đã bao giờ nhìn vào gương chiêm ngưỡng dung nhan của mình khi tức giận? Đó hẳn là một khuôn mặt với phần trán hạ xuống, nhíu lại, đôi môi cong lên, lỗ mũi nở to.
Chúng ta biết rằng, tức giận nhiều không tốt cho sức khỏe, làn da của mỗi người, nhưng một nghiên cứu mới đây của các chuyên gia thuộc ĐH UC Santa Barbara và ĐH Griffith (Australia) lại chỉ ra lợi thế của một "khuôn mặt của sự giận dữ". Theo đó, mỗi yếu tố của sự tức giận sẽ khiến bạn trở nên mạnh mẽ và vượt trội hơn.
Tham gia nghiên cứu - Aaron Sell - giảng viên trường ĐH Griffith, Australia cho rằng, các biểu hiện của sự tức giận đã sử dụng tới 7 nhóm cơ trên khuôn mặt. Và các chuyên gia đang cố gắng lý giải vì sao quá trình tiến hóa lại chọn những nhóm cơ đặc biệt trên khuôn mặt để biểu hiện trạng thái cảm xúc về sự giận dữ.
Phát hiện
Aaron Sell cho biết: "Nghiên cứu trước đây của chúng tôi cho thấy sự tức giận nhằm thúc đẩy hành vi thương lượng để đạt được hiệu quả trong thời gian xảy ra xung đột".
Giáo sư tâm lý học Cosmides Tooby cho hay: "Những người đàn ông thường dễ dàng tức giận hơn, họ hiếu chiến, cảm thấy mình có quyền được đối xử bình đẳng và hay chọn cách giải quyết những xung đột bằng phương pháp quân sự nhiều hơn".
Nhiều chuyên gia cho rằng, đối với tổ tiên chúng ta, một bộ mặt tức giận sẽ khiến đối phương cảm thấy họ là người mạnh mẽ. Để đưa ra được kết luận này, nhà nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm với hai hình ảnh khuôn mặt trên máy tính, một bức ảnh có phần trán hạ thấp xuống và bức ảnh kia có phần lông mày nâng cao lên.
Phát hiện
Chỉ với sự khác biệt nhỏ này, hai khuôn mặt đã có sự thay đổi rõ rệt. Aaron Sell cho biết: "Hình ảnh khuôn mặt với phần trán hạ xuống khiến người đối diện cảm nhận thấy họ có vẻ thể chất khỏe mạnh hơn".
Thí nghiệm được lặp lại với một khuôn mặt khác có xương gò má cao, đôi môi cong lên và hơi đẩy ra phía trước, miệng mở lớn như kiểu thách thức, mũi nở rộng, cằm đưa về phía trước. Đúng như dự đoán, khi được yêu cầu đánh giá, hầu hết mọi người đều cảm thấy vẻ mạnh mẽ về thể chất người đó thể hiện qua khuôn mặt có phần đe dọa này.
Phát hiện
Nhà nghiên cứu Aaron Sell chia sẻ: "Nghiên cứu trước đây của chúng tôi chỉ ra, nhiều người đánh giá khả năng chiến đấu của đối phương qua cách nhìn vào khuôn mặt của người đó. Từ khuôn mặt đầy tức tối, đối phương sẽ hình dung ra hình ảnh một người đàn ông mạnh mẽ với bộ ngực căng phồng, sẵn sàng chiến đấu. Bởi vậy, có thể nói rằng một trong những chức năng của khuôn mặt lúc tức giận là để hăm dọa. Hay nói cách khác, tức giận sẽ khiến bạn trở nên mạnh mẽ và vượt trội hơn".
Nghiên cứu được đăng trên Tạp chí Tiến hóa và Hành vi con người.
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj8jd3bP0hRIjpNqwZUAXiOcmcU3zDoupQa6pCjw94VibXMeMEmd_OkUpAHAF2idpqYjp2gfnqWzO1AkR_-tI2Hoz0cZzA6kSv_sn9UValScmOIaKJCq3DbN66pW85hsLcIHIhKxlIj_Hr3/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgZlsDBUXMPuEImxXYXF5vYGQKAJ5kVG7g0Yc8V4VaHAhgaA-5Np4u9dojjWVOGPh9FCi5JDC709iwQME1hSEKo7-PtsWRzZh53dEsiScuuCSN1OSCBntPM-HPQt65DeoAX0qrHsgDlg22a/

Theo góc độ khoa học, sáng tạo là khả năng suy nghĩ của một điều gì đó mới mẻ từ sự kết nối giữa những ý tưởng đã có từ trước trong não bộ. Những kết nối này được điều khiển bằng các adenosine. Nó giống như 1 loại thông báo về tình trạng não của bạn. Khi năng lượng cơ thể ít, adenosine cảnh báo đến não bộ và làm não chậm lại. Đó là lí do tại sao sau một vài giờ làm việc căng thẳng, bạn bắt đầu cảm thấy mệt mỏi và các suy nghĩ bị ngưng trệ lại.
Có 2 loại thức uống có tác động rất đặc biệt đối với trí não của chúng ta, nhất là sự sáng tạo. Đó chính là bia và cà phê - thức uống quen thuộc hàng ngày của mỗi người. Với 1 lượng thích hợp, bia giúp làm tăng khả năng sáng tạo, trong khi đó cà phê sẽ giúp bạn dễ tăng cường sự tập trung hơn.
Bạn có thường xuyên uống bia hay cà phê không? Và liệu chúng tác động cụ thể như thế nào lên não bộ? Hãy cùng chúng tôi theo dõi nội dung infographic sau đây
Bia và cafe khác nhau như thế nào?

Bia và cafe khác nhau như thế nào?.

Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjuYS1RyfrvPfK1g3SdoJ3EVQp8B39aAVZZv-cj5m8Q5gspoV-pth4GBK4HLjsfhhU15MS9Zp_WPf3l-QavOAeNelnkp7mz9FUqkeQX6QsXnxjjrfAw_RPfLIVuriAlcETxe1YGmfPzECeP/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi1iOvoIVd2olo_vF2iU4i61pV7adSYPWFzYZijGR2RdDnf86gpG7BqHWfgFjkDF9KcZO784CJQl-qZyMRBM21HibDchl5sQ_lZ3bQRlnR1mZa3PHT4mSgNeMdSyTx3g5lA0jrd_QVgAJLA/
Sức khỏe
2:21 PM|

Theo góc độ khoa học, sáng tạo là khả năng suy nghĩ của một điều gì đó mới mẻ từ sự kết nối giữa những ý tưởng đã có từ trước trong não bộ. Những kết nối này được điều khiển bằng các adenosine. Nó giống như 1 loại thông báo về tình trạng não của bạn. Khi năng lượng cơ thể ít, adenosine cảnh báo đến não bộ và làm não chậm lại. Đó là lí do tại sao sau một vài giờ làm việc căng thẳng, bạn bắt đầu cảm thấy mệt mỏi và các suy nghĩ bị ngưng trệ lại.
Có 2 loại thức uống có tác động rất đặc biệt đối với trí não của chúng ta, nhất là sự sáng tạo. Đó chính là bia và cà phê - thức uống quen thuộc hàng ngày của mỗi người. Với 1 lượng thích hợp, bia giúp làm tăng khả năng sáng tạo, trong khi đó cà phê sẽ giúp bạn dễ tăng cường sự tập trung hơn.
Bạn có thường xuyên uống bia hay cà phê không? Và liệu chúng tác động cụ thể như thế nào lên não bộ? Hãy cùng chúng tôi theo dõi nội dung infographic sau đây
Bia và cafe khác nhau như thế nào?

Bia và cafe khác nhau như thế nào?.

Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjuYS1RyfrvPfK1g3SdoJ3EVQp8B39aAVZZv-cj5m8Q5gspoV-pth4GBK4HLjsfhhU15MS9Zp_WPf3l-QavOAeNelnkp7mz9FUqkeQX6QsXnxjjrfAw_RPfLIVuriAlcETxe1YGmfPzECeP/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi1iOvoIVd2olo_vF2iU4i61pV7adSYPWFzYZijGR2RdDnf86gpG7BqHWfgFjkDF9KcZO784CJQl-qZyMRBM21HibDchl5sQ_lZ3bQRlnR1mZa3PHT4mSgNeMdSyTx3g5lA0jrd_QVgAJLA/

Từ những năm 50, 60 và 70, Cơ quan tình báo Mỹ (CIA) đã chế tạo và sử dụng rất nhiều thiết bị công nghệ độc đáo phục vụ công tác gián điệp, thu thập thông tin. Những thiết bị này thường được ngụy trang rất khéo léo để tránh bị phát hiện trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

Dưới đây là 11 thiết bị gián điệp độc đáo nhất của CIA sử dụng, theo tổng hợp từ trang công nghệ Cnet.

1. Dragonfly Insectothopter

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Trong vài năm qua, hãng Festo đã nghiên cứu và phát triển một con rô bốt chuồn chuồn có thể bay được như chuồn chuồn thật. Tuy nhiên, CIA đã từng thử làm điều này từ những năm 70. Được phát triển bởi bộ phận R&D của CIA, Dragonfly Insectothopter được chế tạo để phục vụ các hoạt động gián điệp. Nó được trang bị động cơ ở cánh và một lỗ thông hơi ở phía sau để tăng lực đẩy. Nó hoàn thành bài kiểm tra bay trong các lần thử nghiệm nhưng không được triển khai.

2. Project Acoustic Kitty

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Acoustic Kitty là một chú mèo được cấy ghép pin và microphone nghe lén cùng một ăng-ten dọc theo sống lưng. Chú mèo sẽ hoạt động một cách tự do và làm những điều mà loài mèo thường làm trong khi đó microphone sẽ thu thập những âm thanh và truyền về cho CIA.

Nhiệm vụ đầu tiên của Acoustic Kitty là nghe lén cuộc đối thoại của hai người đàn ông trong một công viên gần khu nhà của Liên Xô. Đáng buồn là khi được thả ra chú mèo đã bị giết bởi một chiếc taxi khi đang cố băng qua đường để thực hiện nhiệm vụ. Ước tính chi phí của dự án này là 25 triệu USD.

3. Pigeon Camera

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Pigeon Camera có vẻ như thành công hơn một chút. Nhìn giống như một chú bồ câu đeo ba lô ngược, nhưng nhờ vậy CIA có thể thu thập được những hình ảnh tốt hơn chụp ảnh bằng máy bay bởi chim bồ câu có thể bay thấp hơn. Chiếc camera có thể được thiết lập để kích hoạt hoặc khởi động sau một khoảng thời gian, sau đó chú bồ câu đã được hướng dẫn đường bay sẽ được thả. Nó sẽ bay qua một mục tiêu cụ thể và camera sẽ ghi lại những hình ảnh của mục tiêu. Vì bồ câu là loài chim rất phổ biến nên nó có thể làm gián điệp mà không bị phát hiện. CIA chưa bao giờ tiết lộ những bức ảnh mà Pigeon Camera chụp được.

4. Belly Buster

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Bộ dụng cụ của thời kỳ 1950s-1960s này có mọi thứ bạn cần để cài đặt một thiết bị nghe lén. Tất cả những dụng cụ như máy khoan tay, dây và micro... đều được gói gọn trong một phong bì mỏng được thiết kế để dễ dàng che giấu. Khoan tay có thể được sử dụng để khoan lỗ trên các bức tường gạch. Điệp viên sẽ phải tỳ đế khoan vào bụng của họ sau đó phải quay tay cầm của khoan để tạo ra lỗ đặt micro và dây.

5. Covert Compact

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Phụ nữ cũng có thể trở thành những gián điệp. Trong thực tế, họ đôi khi còn xuất sắc hơn bởi vì những năm 50 và 60 người ta chẳng mong gì hơn ở phụ nữ ngoài việc tốc ký và giữ nhà. CIA cũng có một loạt tiện ích cho các điệp viên nữ, bao gồm cả bộ trang điểm nhỏ gọn này. Trong gương của thiết bị được khắc mã số, với mục đích thu gọn văn bản hoặc bảo mật. Khi nghiêng gương vào góc đã được thiết lập, những mã số sẽ được tiết lộ.

6. Ngăn bí mật trong đồng đô la bạc

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Đồng xu một đô la bằng bạc của Mỹ ít khi được dùng như một đơn vị tiền tệ. Tuy nhiên nó thường được dùng như là một đồng xu may mắn và là một món đồ được sưu tầm cho tới ngày nay. Do vậy nó khá phù hợp với những hoạt động bí mật bởi chẳng ai nghi ngờ một người đàn ông với đồng xu trên tay. Trong ảnh là một đồng xu đô la bạc Eisenhower rỗng từ những năm 70, nó được dùng để gửi các thông điệp hoặc phim.

7. Thiết bị lấy thư

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Chúng ta có thể dùng hơi nước để mở phong bì mà không làm hỏng nó, tuy nhiên CIA lại có cách khác. Họ dùng một thiết bị có hai thanh gọng kìm mỏng luồn vào góc của phong bì sau đó quấn chặt thư vào hai thanh rồi rút ra để đọc sau đó lại đưa thư vào phong bì mà không hề gây hư hại gì cho phong bì.

8. Charlie

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

So với thiết bị không người lái (UAV) chuồn chuồn phía trên, cỗ máy không người lái dưới nước (UUV) Charlie có vẻ thành công hơn. Thay vì phục vụ mục đích gián điệp, chú cá rô bốt này được thiết kế để nghiên cứu những công nghệ cần cho một rô bốt hoạt động dưới nước. Charlie được xây dựng ưu tiên về tốc độ, độ bền, khả năng cơ động, khả năng kiểm soát độ sâu, khả năng định vị chính xác và khả năng tự chủ. Trong cơ thể dài 61cm của Charlie có một hệ thống chấn lưu, động cơ đẩy ở đuôi và bộ phần truyền thông radio không dây theo đường thẳng. Nhiệm vụ mà Charlie đã thực hiện thành công đó là thu thập mẫu nước.

9. Camera trong bao thuốc lá

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

So với những chiếc smartphone ngày nay thì chiếc camera này có vể lạc hậu và thô. Tuy nhiên chiếc camera hai ống kính phản xạ của Tessina lại là một món đồ công nghệ xa xỉ trong thời điểm những năm 60. Nó có thể chụp được những bức ảnh khổ 14x21mm chất lượng cao trên phim 35mm tiêu chuẩn được nạp vào một băng đặc biệt. Bởi vì nó rất nhỏ nên CIA đã ngụy trang cho nó bằng một vỏ bao thuốc lá được thiết kế đặc biệt. Thoạt nhìn trông bao thuốc này không khác gì một bao thuốc lá thông thường.

10. Khuy măng sét tích hợp la bàn

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Khi gặp nguy hiểm, chiếc la bàn bé xíu này có thể giúp những đặc vụ CIA tìm đường tới nơi an toàn. Những chiếc la bàn thậm chí còn được tích hợp vào lược, dao cạo râu, và nút áo.

11. Máy nghe lén tích hợp vào tẩu thuốc

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

CIA cũng khá nhanh nhạy trong công nghệ truyền dẫn qua xương. Chiếc tẩu thuốc đặc biệt này có một ăng-ten radio khá nhạy cảm ở miệng tẩu, các thiết bị khác được tích hợp ở thân tẩu. Điệp viên sẽ phải ngậm chặt ống tẩu giữa hai hàm răng để nghe âm thanh được truyền qua xương hàm.

 
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhZ2MVLIQILzcDRru4ZrKIp_6MxKU0x_xOmLb14W6Us9TXCeFe_KJcAPin2YmvPfwgGQOEk34NI3GSZ_UvwUGhHEkuCtrk2COKOtzF6QqzcQt3zT9z_TY-UMbq1r3OodP-BgZ81Z6nNzJo8/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjr_Z-CRO7XAEZJdwMku9PBiT4Ro1l1gBnpjAUwQwY7Bb61Dic1Q5YG-3hmyQrL3AVkQh6Itgz_5l5GzfgCPs9dZX3x_JhhZZL0kCZ8bQVHKAHX4uBNv8jBayq-oB_xqwVpQApsDcNW6T0z/
Quanh ta
4:18 PM|

Từ những năm 50, 60 và 70, Cơ quan tình báo Mỹ (CIA) đã chế tạo và sử dụng rất nhiều thiết bị công nghệ độc đáo phục vụ công tác gián điệp, thu thập thông tin. Những thiết bị này thường được ngụy trang rất khéo léo để tránh bị phát hiện trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

Dưới đây là 11 thiết bị gián điệp độc đáo nhất của CIA sử dụng, theo tổng hợp từ trang công nghệ Cnet.

1. Dragonfly Insectothopter

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Trong vài năm qua, hãng Festo đã nghiên cứu và phát triển một con rô bốt chuồn chuồn có thể bay được như chuồn chuồn thật. Tuy nhiên, CIA đã từng thử làm điều này từ những năm 70. Được phát triển bởi bộ phận R&D của CIA, Dragonfly Insectothopter được chế tạo để phục vụ các hoạt động gián điệp. Nó được trang bị động cơ ở cánh và một lỗ thông hơi ở phía sau để tăng lực đẩy. Nó hoàn thành bài kiểm tra bay trong các lần thử nghiệm nhưng không được triển khai.

2. Project Acoustic Kitty

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Acoustic Kitty là một chú mèo được cấy ghép pin và microphone nghe lén cùng một ăng-ten dọc theo sống lưng. Chú mèo sẽ hoạt động một cách tự do và làm những điều mà loài mèo thường làm trong khi đó microphone sẽ thu thập những âm thanh và truyền về cho CIA.

Nhiệm vụ đầu tiên của Acoustic Kitty là nghe lén cuộc đối thoại của hai người đàn ông trong một công viên gần khu nhà của Liên Xô. Đáng buồn là khi được thả ra chú mèo đã bị giết bởi một chiếc taxi khi đang cố băng qua đường để thực hiện nhiệm vụ. Ước tính chi phí của dự án này là 25 triệu USD.

3. Pigeon Camera

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Pigeon Camera có vẻ như thành công hơn một chút. Nhìn giống như một chú bồ câu đeo ba lô ngược, nhưng nhờ vậy CIA có thể thu thập được những hình ảnh tốt hơn chụp ảnh bằng máy bay bởi chim bồ câu có thể bay thấp hơn. Chiếc camera có thể được thiết lập để kích hoạt hoặc khởi động sau một khoảng thời gian, sau đó chú bồ câu đã được hướng dẫn đường bay sẽ được thả. Nó sẽ bay qua một mục tiêu cụ thể và camera sẽ ghi lại những hình ảnh của mục tiêu. Vì bồ câu là loài chim rất phổ biến nên nó có thể làm gián điệp mà không bị phát hiện. CIA chưa bao giờ tiết lộ những bức ảnh mà Pigeon Camera chụp được.

4. Belly Buster

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Bộ dụng cụ của thời kỳ 1950s-1960s này có mọi thứ bạn cần để cài đặt một thiết bị nghe lén. Tất cả những dụng cụ như máy khoan tay, dây và micro... đều được gói gọn trong một phong bì mỏng được thiết kế để dễ dàng che giấu. Khoan tay có thể được sử dụng để khoan lỗ trên các bức tường gạch. Điệp viên sẽ phải tỳ đế khoan vào bụng của họ sau đó phải quay tay cầm của khoan để tạo ra lỗ đặt micro và dây.

5. Covert Compact

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Phụ nữ cũng có thể trở thành những gián điệp. Trong thực tế, họ đôi khi còn xuất sắc hơn bởi vì những năm 50 và 60 người ta chẳng mong gì hơn ở phụ nữ ngoài việc tốc ký và giữ nhà. CIA cũng có một loạt tiện ích cho các điệp viên nữ, bao gồm cả bộ trang điểm nhỏ gọn này. Trong gương của thiết bị được khắc mã số, với mục đích thu gọn văn bản hoặc bảo mật. Khi nghiêng gương vào góc đã được thiết lập, những mã số sẽ được tiết lộ.

6. Ngăn bí mật trong đồng đô la bạc

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Đồng xu một đô la bằng bạc của Mỹ ít khi được dùng như một đơn vị tiền tệ. Tuy nhiên nó thường được dùng như là một đồng xu may mắn và là một món đồ được sưu tầm cho tới ngày nay. Do vậy nó khá phù hợp với những hoạt động bí mật bởi chẳng ai nghi ngờ một người đàn ông với đồng xu trên tay. Trong ảnh là một đồng xu đô la bạc Eisenhower rỗng từ những năm 70, nó được dùng để gửi các thông điệp hoặc phim.

7. Thiết bị lấy thư

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Chúng ta có thể dùng hơi nước để mở phong bì mà không làm hỏng nó, tuy nhiên CIA lại có cách khác. Họ dùng một thiết bị có hai thanh gọng kìm mỏng luồn vào góc của phong bì sau đó quấn chặt thư vào hai thanh rồi rút ra để đọc sau đó lại đưa thư vào phong bì mà không hề gây hư hại gì cho phong bì.

8. Charlie

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

So với thiết bị không người lái (UAV) chuồn chuồn phía trên, cỗ máy không người lái dưới nước (UUV) Charlie có vẻ thành công hơn. Thay vì phục vụ mục đích gián điệp, chú cá rô bốt này được thiết kế để nghiên cứu những công nghệ cần cho một rô bốt hoạt động dưới nước. Charlie được xây dựng ưu tiên về tốc độ, độ bền, khả năng cơ động, khả năng kiểm soát độ sâu, khả năng định vị chính xác và khả năng tự chủ. Trong cơ thể dài 61cm của Charlie có một hệ thống chấn lưu, động cơ đẩy ở đuôi và bộ phần truyền thông radio không dây theo đường thẳng. Nhiệm vụ mà Charlie đã thực hiện thành công đó là thu thập mẫu nước.

9. Camera trong bao thuốc lá

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

So với những chiếc smartphone ngày nay thì chiếc camera này có vể lạc hậu và thô. Tuy nhiên chiếc camera hai ống kính phản xạ của Tessina lại là một món đồ công nghệ xa xỉ trong thời điểm những năm 60. Nó có thể chụp được những bức ảnh khổ 14x21mm chất lượng cao trên phim 35mm tiêu chuẩn được nạp vào một băng đặc biệt. Bởi vì nó rất nhỏ nên CIA đã ngụy trang cho nó bằng một vỏ bao thuốc lá được thiết kế đặc biệt. Thoạt nhìn trông bao thuốc này không khác gì một bao thuốc lá thông thường.

10. Khuy măng sét tích hợp la bàn

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

Khi gặp nguy hiểm, chiếc la bàn bé xíu này có thể giúp những đặc vụ CIA tìm đường tới nơi an toàn. Những chiếc la bàn thậm chí còn được tích hợp vào lược, dao cạo râu, và nút áo.

11. Máy nghe lén tích hợp vào tẩu thuốc

Những công nghệ gián điệp CIA sử dụng thập niên 50, 60 và 70

CIA cũng khá nhanh nhạy trong công nghệ truyền dẫn qua xương. Chiếc tẩu thuốc đặc biệt này có một ăng-ten radio khá nhạy cảm ở miệng tẩu, các thiết bị khác được tích hợp ở thân tẩu. Điệp viên sẽ phải ngậm chặt ống tẩu giữa hai hàm răng để nghe âm thanh được truyền qua xương hàm.

 
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhZ2MVLIQILzcDRru4ZrKIp_6MxKU0x_xOmLb14W6Us9TXCeFe_KJcAPin2YmvPfwgGQOEk34NI3GSZ_UvwUGhHEkuCtrk2COKOtzF6QqzcQt3zT9z_TY-UMbq1r3OodP-BgZ81Z6nNzJo8/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjr_Z-CRO7XAEZJdwMku9PBiT4Ro1l1gBnpjAUwQwY7Bb61Dic1Q5YG-3hmyQrL3AVkQh6Itgz_5l5GzfgCPs9dZX3x_JhhZZL0kCZ8bQVHKAHX4uBNv8jBayq-oB_xqwVpQApsDcNW6T0z/

Đến một trong 10 khu đất vàng của thế giới do Business Insider thống kê sau, du khách không chỉ được tận mắt chứng kiến cuộc sống xa hoa của giới nhà giàu mà còn có cơ hội bắt gặp những người nổi tiếng.

1. Pollock's Path, The Peak, Hong Kong

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Tọa lạc trên đỉnh một ngọn núi, Pollock's Path được mệnh danh là thiên đường dành cho những người giàu có ở Hong Kong. Mỗi mét vuông đất ở đây có giá 120.000 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: diễn viên Châu Tinh Trì, những nhà quản lý của ngân hàng HSBC.

2. Kensington Palace Gardens, London, Anh

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Con đường rợp bóng cây và vô cùng an toàn này là nơi đặt đại sứ quán của nhiều nước như Nga, Pháp, Nhật. Mỗi mét vuông ở đây có giá 107.000 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: Vợ chồng hoàng tử William và công nương Kate Middleton, nhà tỷ phú Ấn Độ Lakshmi Mittal và ông trùm giàu có của Nga Roman Abramovich.

3. Đại lộ công nương Grace, Monaco

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Đại lộ Avenue Princess Grace chạy dọc theo bờ sông và được đặt theo tên của công nương kiêm minh tinh nổi tiếng Hollywood Grace Kelly. Đây là con đường sang trọng vào bậc nhất ở công quốc Monaco, giá của mỗi mét vuông lên đến 86.000 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: danh ca Andrea Bocelli, diễn viên Roger Moore, tay đua công thức một Lewis Hamilton, siêu mẫu Helena Christensen.

4. Boulevard du Général de Gaulle, Cap Ferrat, Pháp

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Nằm dọc Địa Trung Hải, bán đảo Cap Ferrat là khu vực phi đô thị đắt nhất thế giới, có nhiều biệt thự được xây dựng đồ sộ. Giá mỗi mét vuông ở đây vào khoảng 79.000 USD

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: cặp đôi sao Hollywood Brad Pitt và Angelina Jolie, vua hề Charlie Chaplin (trước khi ông chết vào năm 1977).

5. Paterson Hill, Singapore

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Paterson Hill là một khu dân cư yên tĩnh, sở hữu nhiều nhà hàng sang trọng đạt sao vàng Michelin. Một mét vuông ở đây có giá 42.500 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: Người đồng sáng lập Facebook Eduardo Saverin, cựu hoa hậu Singapore Rachel Kum.

6. Chemin de Ruth, Geneva, Thụy Sĩ

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Con phố lát đá, hồ bơi, vườn tược và cảnh quan tuyệt đẹp nhìn ra hồ Geneva là những gì mà hầu hết các gia đình có biệt thự tại Chemin de Ruth đang sở hữu. Giá mỗi mét vuông ở đây là 37.000 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: Gia tộc sáng lập ra hãng xe Peugeot, cựu vận động viên leo núi người Pháp Jean Claude Killy.

7. Romazzino Hill, Sardinia, Italy

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Romazzino Hill và khu vực xung quanh đã là sân chơi dành cho các tỷ phú từ những năm 1960. Giá mỗi mét vuông đất ở đây là 32.900 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: Chính trị gia người Ảrập Saudi Ahmed Zaki Yamani, nhà tài phiệt người Nga Alexei Mordashov, gia đình hoàng gia Qatar.

8. Ostozhenka, Moscow, Nga

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Phố Ostozhenka nằm ngay trung tâm Moscow, là điểm đến của lịch sử, ẩm thực, và đời sống xa hoa của nước Nga. Mỗi mét vuông đất ở đây có giá 29.000 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: Nhà tài phiệt Alisher Usmanov.

9. Fifth Avenue, New York, Mỹ

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Nhà ở Fifth Avenue, đặc biệt là những ngôi nhà phía trước Công viên Trung tâm có số thứ tự từ 59 đến 96, từ lâu đã là điểm đến của những người giàu có và nổi tiếng. Giá mỗi mét vuông đất ở đây lên đến 28.000 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: diễn viên Bill Murray, nhà báo nổi tiếng Tom Brokaw.

10. Đại lộ Montaigne, Paris, Pháp

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Con phố cao cấp này thuộc khu Champs Elysees ở thủ đô Paris có giá 26.000 USD một mét vuông.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: cố diễn viên nổi tiếng Marlene Dietrich.

 
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjhB3bzHMcbE9-6tSgMZRuHGBm4dDzwJfEOy6zD16sieDBjWpNu9Wcvo1lDlHJ09CAFY49osLkISYccOfUEWlZlbRJpFeVtzNpXJzRsUgZL1RijSoYRMI9ANBucUhePnb9KZsjUV2RFy0_t/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgB-hj38BH5RFCKyLN3Fnlbvk3EAUpcawA7t8jBezAa4wLJbC_3Yk5sk37nzlv-0HYu-3Ce9k3p_o4K9GDsmEXVPQa6YJgICnIHEAQDX5vPKS8zKAkRuFOWZGSKp79CyHRqjy4tcrdPjBiX/
Quanh ta
4:17 PM|

Đến một trong 10 khu đất vàng của thế giới do Business Insider thống kê sau, du khách không chỉ được tận mắt chứng kiến cuộc sống xa hoa của giới nhà giàu mà còn có cơ hội bắt gặp những người nổi tiếng.

1. Pollock's Path, The Peak, Hong Kong

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Tọa lạc trên đỉnh một ngọn núi, Pollock's Path được mệnh danh là thiên đường dành cho những người giàu có ở Hong Kong. Mỗi mét vuông đất ở đây có giá 120.000 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: diễn viên Châu Tinh Trì, những nhà quản lý của ngân hàng HSBC.

2. Kensington Palace Gardens, London, Anh

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Con đường rợp bóng cây và vô cùng an toàn này là nơi đặt đại sứ quán của nhiều nước như Nga, Pháp, Nhật. Mỗi mét vuông ở đây có giá 107.000 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: Vợ chồng hoàng tử William và công nương Kate Middleton, nhà tỷ phú Ấn Độ Lakshmi Mittal và ông trùm giàu có của Nga Roman Abramovich.

3. Đại lộ công nương Grace, Monaco

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Đại lộ Avenue Princess Grace chạy dọc theo bờ sông và được đặt theo tên của công nương kiêm minh tinh nổi tiếng Hollywood Grace Kelly. Đây là con đường sang trọng vào bậc nhất ở công quốc Monaco, giá của mỗi mét vuông lên đến 86.000 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: danh ca Andrea Bocelli, diễn viên Roger Moore, tay đua công thức một Lewis Hamilton, siêu mẫu Helena Christensen.

4. Boulevard du Général de Gaulle, Cap Ferrat, Pháp

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Nằm dọc Địa Trung Hải, bán đảo Cap Ferrat là khu vực phi đô thị đắt nhất thế giới, có nhiều biệt thự được xây dựng đồ sộ. Giá mỗi mét vuông ở đây vào khoảng 79.000 USD

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: cặp đôi sao Hollywood Brad Pitt và Angelina Jolie, vua hề Charlie Chaplin (trước khi ông chết vào năm 1977).

5. Paterson Hill, Singapore

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Paterson Hill là một khu dân cư yên tĩnh, sở hữu nhiều nhà hàng sang trọng đạt sao vàng Michelin. Một mét vuông ở đây có giá 42.500 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: Người đồng sáng lập Facebook Eduardo Saverin, cựu hoa hậu Singapore Rachel Kum.

6. Chemin de Ruth, Geneva, Thụy Sĩ

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Con phố lát đá, hồ bơi, vườn tược và cảnh quan tuyệt đẹp nhìn ra hồ Geneva là những gì mà hầu hết các gia đình có biệt thự tại Chemin de Ruth đang sở hữu. Giá mỗi mét vuông ở đây là 37.000 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: Gia tộc sáng lập ra hãng xe Peugeot, cựu vận động viên leo núi người Pháp Jean Claude Killy.

7. Romazzino Hill, Sardinia, Italy

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Romazzino Hill và khu vực xung quanh đã là sân chơi dành cho các tỷ phú từ những năm 1960. Giá mỗi mét vuông đất ở đây là 32.900 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: Chính trị gia người Ảrập Saudi Ahmed Zaki Yamani, nhà tài phiệt người Nga Alexei Mordashov, gia đình hoàng gia Qatar.

8. Ostozhenka, Moscow, Nga

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Phố Ostozhenka nằm ngay trung tâm Moscow, là điểm đến của lịch sử, ẩm thực, và đời sống xa hoa của nước Nga. Mỗi mét vuông đất ở đây có giá 29.000 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: Nhà tài phiệt Alisher Usmanov.

9. Fifth Avenue, New York, Mỹ

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Nhà ở Fifth Avenue, đặc biệt là những ngôi nhà phía trước Công viên Trung tâm có số thứ tự từ 59 đến 96, từ lâu đã là điểm đến của những người giàu có và nổi tiếng. Giá mỗi mét vuông đất ở đây lên đến 28.000 USD.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: diễn viên Bill Murray, nhà báo nổi tiếng Tom Brokaw.

10. Đại lộ Montaigne, Paris, Pháp

Khám phá 10 khu đất đắt đỏ nhất thế giới

Con phố cao cấp này thuộc khu Champs Elysees ở thủ đô Paris có giá 26.000 USD một mét vuông.

Cư dân nổi tiếng sống tại đây: cố diễn viên nổi tiếng Marlene Dietrich.

 
Theo khoahoc.com.vn
smallimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjhB3bzHMcbE9-6tSgMZRuHGBm4dDzwJfEOy6zD16sieDBjWpNu9Wcvo1lDlHJ09CAFY49osLkISYccOfUEWlZlbRJpFeVtzNpXJzRsUgZL1RijSoYRMI9ANBucUhePnb9KZsjUV2RFy0_t/
bigimagecskthttps://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgB-hj38BH5RFCKyLN3Fnlbvk3EAUpcawA7t8jBezAa4wLJbC_3Yk5sk37nzlv-0HYu-3Ce9k3p_o4K9GDsmEXVPQa6YJgICnIHEAQDX5vPKS8zKAkRuFOWZGSKp79CyHRqjy4tcrdPjBiX/